Năm 2015, Tăng trưởng kinh tế tỉnh ta đạt 11.8%

Đăng ngày 15 - 10 - 2015
100%

Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015, cùng với khó khăn chung của cả nước, Thanh Hoá còn gặp phải khó khăn riêng do diễn biến thời tiết bất thường; nắng nóng kéo dài gây hạn hán trên diện rộng, mực nước các hồ đập, sông suối xuống thấp; mưa lớn kèm theo nước lũ gây ngập lụt ở một số địa phương đã tác động bất lợi đến sản xuất, kinh doanh, đầu tư xây dựng và đời sống nhân dân. Trong bối cảnh đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp đề ra từ đầu năm; đồng thời tranh thủ tốt thời cơ, vận hội mới; bên cạnh đó là sự cố gắng, nỗ lực và quyết tâm cao của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, nên tình hình kinh tế - xã hội năm 2015 vẫn giữ được ổn định và có bước phát triển.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GDP) theo giá so sánh năm 1994 ước tăng 11,8% so cùng kỳ (năm 2014 tăng 11,6% so với cùng kỳ); trong đó ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (khu vực I) tăng 3,4%; ngành công nghiệp, xây dựng (khu vực II) tăng 13,6%; các ngành dịch vụ (khu vực III) tăng 12,9%. Cơ cấu GDP: tỷ trọng khu vực I từ 18,8% năm 2014 xuống 17,5% năm 2015; khu vực II từ 40,9% lên 42,1%; khu vực III từ 40,3% lên 40,4%. GDP bình quân đầu người năm 2015 theo giá hiện hành ước đạt 33 triệu đồng, theo USD đạt 1.520 USD. Đạt được kết quả trên là do đóng góp của các ngành, lĩnh vực như sau:

 

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

1.1 Nông nghiệp

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh đạt 443,7 nghìn ha, vượt 0,2% kế hoạch, giảm 1,2% so với cùng kỳ; trong đó vụ đông 50,1 nghìn ha, đạt 86,3% và giảm 1,1%; vụ chiêm xuân 220 nghìn ha, vượt 2,3% và giảm 0,3%; vụ thu mùa 173,6 nghìn ha, vượt 2,1% kế hoạch, giảm 2,3% so với cùng kỳ. Năng suất một số cây trồng chính như sau: Lúa 57,9 tạ/ha, bằng 98,8% kế hoạch, giảm 1,3% so với cùng kỳ (giảm 0,7 tạ/ha), trong đó, vụ thu mùa 53,0 tạ/ha, vượt 1,0% kế hoạch, giảm 0,4% so với cùng kỳ; ngô 43,3 tạ/ha, bằng 96,8%, tăng 6,9%; lạc 18,4 tạ/ha, bằng 92,3%, tăng 11,3%; đậu tương 15,4 tạ/ha, bằng 97,5%, tăng 4,5%; mía 575,7 tạ/ha, bằng 87,7% kế hoạch, giảm 2,3% so với cùng kỳ… Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm dự kiến 1.733,2 nghìn tấn, vượt 2,6% so kế hoạch và giảm 0,3% so cùng kỳ.

Chăn nuôi ổn định, tổng đàn có xu hướng tăng so với cùng kỳ. Ước tính tại thời điểm 1/10/2015, tổng đàn trâu 193,7 nghìn con, tăng 0,5% so với cùng kỳ; đàn bò 219,5 nghìn con, tăng 1,6%; đàn lợn 904,5 nghìn con, tăng 1,8%; gia cầm 18,2 triệu con, tăng 2,4%. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 214,1 nghìn tấn, tăng 2,1% so cùng kỳ (trong đó thịt lợn hơi 137,8 nghìn tấn, tăng 2,2%); sản lượng trứng gia cầm 125,6 triệu quả, tăng 22,4%; sữa tươi 3,8 nghìn tấn, gấp gần 2 lần.

Toàn ngành nông nghiệp đã tạo ra được 3.645,7 tỷ đồng giá trị tăng thêm, tăng 2,0% so với cùng kỳ, thấp hơn 2,1% so với năm 2014 (năm 2014 tăng 4,1%).

1.2 Lâm nghiệp

Giá trị sản xuất lâm nghiệp (theo giá so sánh 1994) ước đạt 848,3 tỷ đồng, vượt 0,9% kế hoạch, tăng 7,8% so cùng kỳ. Diện tích khoanh nuôi tái sinh 7 nghìn ha, chăm sóc rừng trồng 46,8 nghìn ha, bảo vệ rừng 578,7 nghìn ha và trồng cây phân tán 2,3 triệu cây; nhìn chung, các chỉ tiêu lâm sinh cơ bản đạt mục tiêu kế hoạch và tăng so với năm 2014 (riêng trồng cây phân tán bằng 49,2% so với cùng kỳ). Khai thác lâm sản: Gỗ 400 nghìn m3, tăng 31,0% so cùng kỳ; củi 1.254 nghìn ste, giảm 15,2%; tre luồng 45 triệu cây, tăng 52,5%; nứa nguyên liệu 70 nghìn tấn, tăng 7,6% so với cùng kỳ. Ngành lâm nghiệp tạo ra được 654,7 tỷ đồng giá trị tăng thêm, tăng 7,2% so với cùng kỳ, tăng cao hơn 0,1% so với năm 2014 (năm 2014 tăng 7,1%).

1.3 Thủy sản

Giá trị sản xuất thủy sản (theo giá so sánh 1994) ước đạt 1.354,1 tỷ đồng, vượt 0,8% kế hoạch, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Tổng sản lượng 143,4 nghìn tấn, vượt 2,1% kế hoạch, tăng 7,8% so với cùng kỳ; trong đó, sản lượng khai thác 94,2 nghìn tấn, vượt 0,2% và tăng 7,9%; riêng khai thác xa bờ 40,9 nghìn tấn, tăng 10,7%; sản lượng nuôi trồng 49,2 nghìn tấn, vượt 5,9% và tăng 7,6% so cùng kỳ. Ngành thuỷ sản tạo ra được 704,3 tỷ đồng giá trị tăng thêm, tăng 7,4% so với cùng kỳ, cao hơn 0,7% so với tốc độ tăng năm 2014 (năm 2014 tăng 6,7%).

Tính chung KV I tạo ra 5.004,7 tỷ đồng giá trị tăng thêm, tăng 3,4%, thấp hơn 1,5% so với tốc độ tăng năm 2014 (năm 2014 tăng 4,9%) và KV I đóng góp 0,5 điểm % vào 11,8% tăng trưởng chung năm 2015.

2. Khu vực công nghiệp - xây dựng

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh năm 1994) đạt 33.731,1 tỷ đồng, bằng 99,5% kế hoạch, tăng 10,6% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp Nhà nước 6.186,8 tỷ đồng, tăng 8,4%; khu vực ngoài Nhà nước 17.435,4 tỷ đồng, tăng 10,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 10.108,9 tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ. Ngành công nghiệp đã tạo ra 12.066,9 tỷ đồng giá trị tăng thêm, tăng 10,0% so với cùng kỳ, thấp hơn 2,0% so với tốc độ tăng năm 2014 (năm 2014 tăng 12,0%).

Dự ước năm 2015, tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn đạt 112.731,6 tỷ đồng, vượt 4,4% kế hoạch, tăng 31,8% so với cùng kỳ; giá trị sản xuất xây dựng (theo giá so sánh năm 1994) đạt 21.342,3 tỷ đồng, vượt 0,9% kế hoạch, tăng 22,0% so với cùng kỳ. Ngành xây dựng tạo ra được 6.090,0 tỷ đồng giá trị tăng thêm, tăng 21,3% so với cùng kỳ, cao hơn 4,3% so với tốc độ tăng năm 2014 (năm 2014 tăng 17,0%).

Tính chung KV II tạo ra 18.156,9 tỷ đồng giá trị tăng thêm, tăng 13,6%, tăng cao hơn 0,1% so với năm 2014 (năm 2014 tăng 13,5%) và KV II đóng góp 7,0 điểm % vào 11,8% tăng trưởng chung năm 2015.

3. Các ngành dịch vụ

Dự ước năm 2015, doanh thu vận tải đạt 6.835,5 tỷ đồng, bằng 88,8% kế hoạch, tăng 12,9% so với năm 2014; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt 61.394,4 tỷ đồng, vượt 2,3% kế hoạch, tăng 16,9% (chưa loại trừ yếu tố giá); tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu đạt 1.480,2 triệu USD, vượt 28,7% kế hoạch, tăng 19,3%; tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu đạt 1.080,9 triệu USD, tăng 41,2%; tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 10.800 tỷ đồng, vượt 54,2% dự toán tỉnh giao, tăng 24,6% so cùng kỳ; chi ngân sách địa phương đạt 23.124 tỷ đồng, vượt 13,9% dự toán, tăng 10,2% so cùng kỳ; dự ước đến ngày 31/12/2015, tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 47.360 tỷ đồng, tăng 18,0% so với thời điểm 31/12/2014; tổng dư nợ trên địa bàn đạt 58.857 tỷ đồng, tăng 16,0% so với 31/12/2014.  

Khu vực III tạo ra 11.739,1 tỷ đồng giá trị tăng thêm, tăng 12,9% so với cùng kỳ, cao hơn 0,9% so với tốc độ tăng năm 2014 (năm 2014 tăng 12,0%) và KV III đóng góp 4,3 điểm % vào 11,8% tăng trưởng chung năm 2015.

* Một số kiến nghị

Mặc dù năm 2015, kinh tế tỉnh ta tiếp tục tăng trưởng cao. Tuy nhiên, trước mắt còn nhiều khó khăn, thách thức phải đối mặt, đó là: Biến động phức tạp của thị trường hàng hóa cũng như thị trường tài chính toàn cầu; kinh tế trong nước tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Thị trường tài chính được dự báo tiếp tục có những biến động phức tạp; thị trường xuất khẩu nông sản của nước ta có xu hướng bị thu hẹp do có sự cạnh tranh về giá đối với những sản phẩm chủ yếu như gạo, cà phê... của một số nước (Thái Lan, Ấn Độ...); bên cạnh đó, nhiều mặt hàng tiêu dùng của nước ta cũng sẽ gặp bất lợi khi phải cạnh tranh với hàng hóa giá rẻ nhập khẩu từ Trung Quốc; trong tỉnh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, điều kiện kinh tế - xã hội khu vực miền núi còn nhiều khó khăn, thiên tai, dịch bệnh diễn biến khó lường... là những yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 của tỉnh. Để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2016; các cấp, các ngành cần tập trung vào một số vấn đề trọng tâm sau đây:

Một là, đẩy nhanh việc thực hiện và giải ngân các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ nhằm tăng cường việc cung tiền ra lưu thông, kích cầu tiêu dùng, tăng sức mua.

Hai là, tiếp tục tìm cách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngành công nghiệp, doanh nghiệp tham gia thị trường xuất khẩu.

Ba là, các doanh nghiệp xuất khẩu cần tích cực mở rộng thị trường theo hướng đa phương hoá, phát triển các thị trường mới, thị trường tiềm năng. Đặc biệt cần tập trung nghiên cứu xây dựng thị trường chiến lược, đồng thời dành sự ưu tiên lớn trong đầu tư, phát triển thị trường quan trọng này.

Bốn là, phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng tạo ra nhiều giá trị gia tăng, chủ động nghiên cứu thay đổi cơ cấu cây con phù hợp, bảo đảm cho năng suất cao, chi phí hợp lý và có lãi. Làm tốt công tác phòng, chống hạn hán và dịch bệnh trên cây, con. Chủ động về nhân lực và thiết bị cần thiết; đồng thời xây dựng kế hoạch, phương án cụ thể  để đối phó với thời tiết xấu xảy ra vào mùa mưa, bão, nhằm hạn chế ở mức thấp nhất thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp cũng như thiệt hại về người và tài sản. Phát triển mạnh thị trường bán lẻ trong tỉnh theo hướng ổn định và bền vững. Tập trung nghiên cứu xu hướng tiêu dùng cả trong và ngoài tỉnh để xác định đúng hướng cho sự phát triển ngành hàng bán lẻ phù hợp với tình hình kinh tế trong tỉnh và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh công tác an sinh xã hội. Tập trung quan tâm các xã, thôn bản khó khăn. Tổ chức có hiệu quả công tác dạy nghề cho lao động nông thôn, tạo điều kiện cho họ tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật để vận dụng vào thực tiễn sản xuất, góp phần tạo việc làm, cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống. Vận dụng linh hoạt các cơ chế chính sách phù hợp với điều kiện của từng địa phương để thu hút các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp đầu tư phát triển kinh tế của địa phương. Tiếp tục rà soát, bổ sung cơ chế chính sách nhằm giảm nghèo bền vững, chống tái nghèo./.

<

Tin mới nhất

Tình hình kinh tế - xã hội Quý 1 năm 2016(22/03/2016 2:27 CH)

Năm 2015, Tăng trưởng kinh tế tỉnh ta đạt 11.8%(15/10/2015 10:43 SA)

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa chín tháng đầu năm 2015(27/09/2015 10:45 SA)

Kinh tế Thanh Hóa năm 2014 tăng trưởng 11.6%(12/11/2014 1:55 CH)

170 người đang online