Số lượng tàu thuyền đánh bắt xa bờ, tàu thuyền dịch vụ khai thác hải sản

Đăng ngày 01 - 08 - 2015
100%

tăng cả về số lượng và công suất so với cùng kỳ góp phần đáng kể tăng nhanh sản lượng thuỷ sản và bảo vệ biển đảo Năm 2015, Tổng cục Thống kê ban hành Phương án điều tra thuỷ sản theo Quyết định số 235/QĐ-TCTK ngày 02/4/2015 thay thế Phương án điều tra thuỷ sản năm 2008 theo Quyết định số 329/QĐ-TCTK ngày 28/4/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê. Theo phương án điều tra thuỷ sản mới, số kỳ điều tra và chi tiêu đầu vào tăng lên; mỗi năm thực hiện 2 kỳ điều tra 1/5, 1/11 như phương án cũ và thực hiện điều tra chọn mẫu hàng tháng tàu thuyền có động cơ khai thác trên biển; tăng thêm về chỉ tiêu đầu vào như: Chỉ tiêu về lao động, về chi phí cho một chuyến khai thác...

Mặt khác phương pháp chọn mẫu có nhiều thay đổi so với phương án cũ như chọn mẫu hộ nuôi trồng thuỷ sản theo phương thức nuôi (thâm canh, bán thâm canh, quảng canh và quảng canh cải tiến), chia theo loại mặt nước (nước ngọt, nước lợ, nước mặn) và chia theo loại con nuôi chủ yếu như tôm sú, tôm thẻ chân trắng, con nuôi trọng điểm... Việc chọn mẫu hộ điều tra tàu thuyền khai thác thuỷ sản trên biển có sự thay đổi nhiều, dàn mẫu chọn hộ điều tra theo nhóm công suất gắn với nghề khai thác để thu thập thông tin về hoạt động của tàu thuyền, từ đó xác định hệ số hoạt động tàu thuyền trong tháng; thu thập thông tin về sản lượng từng chuyến đánh bắt trên biển... Kết quả điều tra thuỷ sản để tính toán các chỉ tiêu chủ yếu của ngành thuỷ sản nhằm phục vụ yêu cầu lập kế hoạch, qui hoạch, hoạch định chính sách phát triển sản xuất ngành thuỷ sản của các cấp, các ngành, các địa phương.

Phạm vi kỳ điều tra 01/5/2015 thực hiện ở 6 huyện ven biển, huyện Nông Cống và thành phố Thanh Hoá.

Đơn vị điều tra ở tất cả các thành phần kinh tế (không bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) có diện tích nuôi trồng thuỷ sản và nuôi lồng bè nước mặn, lợ; có tàu thuyền khai thác thuỷ sản trên biển.

Kỳ điều tra này thực hiện 2 loại điều tra, điều tra toàn bộ kết hợp với điều tra chọn mẫu để thu thập thông tin về đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản tại thời điểm 01/5/2015 và trong kỳ điều tra (6 tháng), cụ thể:

- Điều tra toàn bộ ở 65 xã, phường của 6 huyện ven biển, huyện Nông Cống và thành phố Thanh Hoá và 05 DN&HTX ngoài nhà nước để thu thập thông tin về diện tích nuôi trồng và thu hoạch thuỷ sản nước mặn, lợ; 84 hộ nuôi thuỷ sản lồng, bè nước nặm (do số hộ nuôi lồng bè nhỏ hơn 100 hộ nên điều tra toàn bộ). Lập danh sách toàn bộ chủ tàu thuyền có động cơ khai thác thuỷ sản trên biển, thu thập thông tin về nghề đánh bắt, tổng công suất máy chính tàu thuyền,...

- Điều tra chọn mẫu hộ nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng; hộ nuôi ngao; điều tra hộ mẫu về hoạt động tàu thuyền và khai thác thuỷ sản trên biển.

Kết quả điều tra cho thấy, toàn tỉnh có 7.058 tàu thuyền có động cơ khai thác hải sản với tổng công suất là 390,9 nghìn CV, công suất bình quân 55,39 CV/tàu; so với cùng kỳ về số tàu giảm 256 tàu (giảm chủ yếu loại tàu thuyền công suất nhỏ) về công suất tăng 19 nghìn CV (tăng 5,1%), bình quân tăng 4,5CV/tàu, công suất tăng do được cải hoán, thay máy, đóng mới... Tàu xa bờ (từ 90 CV trở lên) có 1.234 tàu, tổng công suất 257,5 nghìn CV, so với cùng kỳ về số lượng tăng 70 tàu (tăng 18,2%), về công suất tăng 8,3 nghìn CV (tăng 3,3%). Huyện Tĩnh Gia có số lượng tàu thuyền nhiều nhất 2.302 tàu, tiếp theo là Quảng Xương 1.435 tàu, Hoằng Hoá 1.269 tàu, Hậu Lộc 692 tàu, Nga Sơn 279 tàu, thành phố Thanh Hoá 33 tàu. Trong tổng số 1.234 tàu thuyền 90 CV trở lên, huyện Tĩnh Gia 462 tàu, Hậu Lộc 345 tàu, Sầm Sơn 235 tàu,... 

Trong tổng số tàu thuyền (7.028 cái), nhóm tàu thuyền công suất nhỏ hơn 20CV chiếm 63,4%, nhóm tàu thuyền từ 20CV đến nhỏ hơn 90CV chiếm 28,9%, nhóm tàu thuyền từ 90CV trở lên chiếm 17,5%. Theo nghề đánh bắt: Nghề lưới kéo chiếm 34,2%, nghề lưới rê chiếm 21,7%, nghề câu chiếm 15,6%, nghề lưới vây 11,5%, nghề mành vó chiếm 4,7%... Số lao động đang trực tiếp đánh bắt thuỷ sản trên biển có gần 24,1 nghìn lao động; bình quân 5,47 lao động/tàu; trong đó nhóm tàu thuyền công suất nhỏ hơn 20CV 1,95 lao động/tàu, tương tự từ 20CV đến nhỏ hơn 50CV 3,43 lao động/tàu, từ 50CV đến nhỏ hơn 90CV 4,89 lao động/tàu, từ 90CV đến nhỏ hơn 250CV 7,11 lao động/tàu, từ 250CV đến nhỏ hơn 400CV 8,45 lao động/tàu, từ 400CV trở lên 10,17 lao động/tàu;

Tàu thuyền làm dịch vụ thu mua hải sản và cung ứng dầu, đá lạnh, thực phẩm phục vụ đánh bắt tăng; hiện tại có 146 cái, với công suất 46,9 nghìn CV, so với cùng kỳ về số lượng tăng 10 tàu (tăng 7,4%), về công suất tăng 5,6 nghìn CV, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tàu khai thác hải sản bám biển dài ngày.

Tổng công suất tàu thuyền, số lượng tàu thuyền đánh bắt xa bờ, tàu thuyền dịch vụ khai thác thuỷ sản tăng, làm tăng năng lực đánh bắt thuỷ sản, góp phần đáng kể tăng sản lượng khai thác thuỷ sản trên biển; đồng thời tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập cho ngư dân vùng biển, góp phần bảo vệ biển đảo của Tổ quốc .

Kết quả điều tra cho thấy, sản lượng thuỷ sản khai thác trên biển 6 tháng đạt 45,5 nghìn tấn, tăng 6,7% cùng kỳ; trong đó sản lượng cá chiếm 73,1%, sản lượng tôm các loại chiếm 4,8%, sản lượng thuỷ sản khác chiếm 22,1%. Trong tổng sản lượng cá, cá nục chiếm 18,5%, cá trích 8,7%, cá hồng 7,3%, cá bộc má 4,1%...; trong tổng sản lượng thuỷ sản khác, sứa chiếm 62,2%, mực chiếm 20,8%, ghẹ 0,8%,...

Qua điều tra cho thấy, năng lực khai thác trên biển còn nhiều hạn chế đó là: Tàu thuyền có động cơ đánh bắt trên biển có số lượng tàu thuyền nhiều nhưng chủ yếu là tàu thuyền công suất nhỏ đang chiếm tỷ trọng lớn (63,4%) khai thác gần bờ trong khi nguồn lợi thuỷ sản gần bờ đang cạn kiệt, năng suất thấp, thu nhập và đời sống của ngư dân còn nhiều khó khăn. Sản lượng đánh bắt loài thuỷ sản cá tạp, hải sản khác như sứa, moi,... tuy số lượng lớn nhưng giá trị sản phẩm thấp. Tàu thuyền công suất từ 400CV trở lên chiếm tỷ trọng thấp (1,7%), loại tàu thuyền 250CV đến nhỏ hơn 400CV chiếm 2,85% trong tổng số tàu tuyền toàn tỉnh.

Đẩy mạnh phát triển ngành thuỷ sản nói chung, khai thác thuỷ sản trên biển nói riêng đang là kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Do lợi thế về tiềm năng vùng biển Thanh Hoá có chiều dài bờ biển 120 Km, có diện tích biển rộng, dọc bờ biển có một số cửa sông lớn và nhiều cảng cá, bến cá, âu trú bão thuận lợi cho phát triển ngành thuỷ sản. Do vậy cần phải có chính sách đầu tư thoả đáng hơn nữa để tăng nhanh sản lượng thuỷ sản, nhất là đầu tư để khai thác những loại hải sản có giá trị kinh tế cao, nâng cao sức cạnh trạnh sản phẩm, góp phần bảo vệ anh ninh biển đảo.

Đến nay các cơ quan chức năng đang tích cực triển khai Nghị định số 67/2014/NĐ-CPcủa Chính phủ về chính sách cho vay vốn ưu đãi đóng mới tàu 400CV trở lên, Ngân hàng Agribank Thanh Hoá đã triển khai cho một số chủ tàu vay vốn ưu đãi để đóng tàu thuyền khai thác và dịch vụ khai thác hải sản. Đây là chính sách ưu đãi lớn đối với phát triển khai thác hải sản xa bờ, cần đẩy nhanh tiến độ rải ngân để hoàn thành mục tiêu, kế hoạch của tỉnh đến hết năm 2016 hoàn thành 90 tàu thuyền đánh bắt thuỷ sản có công suất 400CV trở lên và 04 tàu dịch vụ khai thác thuỷ sản./.

<

Tin mới nhất

Kết quả điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2015 tại Thanh Hóa(16/11/2015 2:54 CH)

Kết quả chủ yếu điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014(21/08/2015 2:08 CH)

Số lượng tàu thuyền đánh bắt xa bờ, tàu thuyền dịch vụ khai thác hải sản(01/08/2015 11:24 SA)

Kết quả điều tra chăn nuôi 01/4/2015(23/05/2015 7:56 SA)

Cục Thống kê Thanh Hoá thực hiện điều tra Lao động việc làm (22/01/2013 4:42 CH)

287 người đang online