Kết quả điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2016 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Đăng ngày 22 - 11 - 2016
100%

Cục Thống kê Thanh Hóa tiến hành điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2016 theo Phương án điều tra chăn nuôi ban hành theo Quyết định số 882/QĐ-TCTK ngày 28/8/2013 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, để thu thập toàn bộ về số lượng đàn gia súc, gia cầm và vật nuôi khác tại thời điểm điều tra, sản lượng sản phẩm xuất chuồng (giết, bán) trong kỳ điều tra ở tất cả các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh.

Từ kết quả cuộc điều tra, tính toán các chỉ tiêu chủ yếu của từng loại vật nuôi để phục vụ công tác quản lý điều hành, xây dựng kế hoạch và chính sách phát triển ngành chăn nuôi bền vững. 

Kỳ điều tra lần này thực hiện ở 5 nhóm:

   (1) Hộ nông thôn, hộ thành thị  có chăn nuôi,

   (2) Gia trại (từ 30 con lợn hoặc 1000 con gia cầm trở lên nhưng chưa đủ tiêu chí trang trại),

   (3) Trang trại chăn nuôi đủ tiêu chí theo Thông tư 27 của Bộ NN&PT NT (TT),

   (4) Doanh nghiệp (DN) và hợp tác xã (HTX) có chăn nuôi,  

   (5) Thôn/bản. Cuộc điều tra được thực hiện kết hợp giữa điều tra toàn bộ với điều tra chọn mẫu. 

Từ ngày 01-10/10/2016 lực lượng điều tra ở cấp huyện, thị xã, thành phố đã điều tra toàn bộ 17 DN và HTX, 653 trang trại, điều tra chọn mẫu 1.294 trong tổng số 3.653 gia trại lợn và gia cầm; thu thập thông tin ở thôn về chăn nuôi trâu, bò và chăn nuôi khác (5.891 thôn), điều tra chọn mẫu 5.059 hộ chăn nuôi lợn và gia cầm, 4.340 hộ mẫu chăn nuôi trâu bò, làm cơ sở tính toán suy rộng số lượng đàn gia súc, gia cầm tại thời điểm 01/10/2016 và sản phẩm xuất chuồng (giết, bán) trong kỳ điều tra cho hộ nông thôn và hộ thành thị toàn tỉnh.   

Kết quả điều tra, tổng hợp từ các huyện, thị xã, thành phố cho thấy:   

Về số lượng: Tổng đàn trâu 201.748 con, tăng 3,2 % so với cùng kỳ (CK) 01/10/2015;  trong đó khu vực miền núi có 151.386 con (chiếm 75% tổng đàn toàn tỉnh), tăng 3.5% so với CK năm trước. Như vậy, đàn trâu phát triển chủ yếu ở khu vực miền núi là nơi có lợi thế về đồng cỏ chăn thả và khai thác được nguồn thức ăn tận dụng trong tự nhiên, mặt khác ngoài đảm bảo nhu cầu thực phẩm trên thị trường đàn trâu còn cung cấp sức cày, sức kéo, nơi mà việc cơ giới hóa phục vụ sản xuất và đời sống còn hạn chế. Có 21/27 huyện, đàn trâu tăng so với CK, một số huyện tăng nhiều như: Thạch Thành, Cẩm Thủy, Như Thanh, Ngọc Lặc, ... Chăn nuôi trâu trên địa bàn tỉnh chủ yếu theo mô hình nhỏ lẻ tập trung chủ yếu ở các hộ, (199.786 con, chiếm 99% tổng đàn trâu). 

Tổng đàn bò 239.026 con, tăng 6,7% so với kỳ 1/10/2015; đàn bò phát triển, tăng ở 3 vùng miền; tuy nhiên miền núi đang có chiều hướng tăng khá hơn. Có 25/27 huyện tăng so với CK, một số huyện đàn bò tăng nhiều như: Thạch Thành, Cẩm Thủy, Như Thanh, Như Xuân...

Trong tổng đàn bò hộ nông thôn có 228.848 con chiếm 95,7%, còn lại ở trang trại, doanh nghiệp, HTX và hộ thuộc khu vực thị trấn/phường. Đàn trâu, bò thời điểm 01/10/2016 tăng so với cùng kỳ là do có chính sách hỗ trợ vốn vay phát triển chăn nuôi của nhà nước đối với hộ nghèo, cận nghèo thuộc vùng 30a, chương trình 135, dự án bò của Vietell và chương trình xây dựng nông thôn mới như dự án tầm nhìn thế giới, hội chữ thập đỏ, đề án phát triển chăn nuôi của huyện hỗ trợ một phần kinh phí chăn nuôi đã khuyến khích hộ dân đầu tư tăng đàn;  Công ty cổ phần giống Thanh Ninh - Bỉm Sơn có nuôi thêm 98 con trâu; Trại bò sữa Phú Nhuận Như Thanh với quy mô 2000 con được đầu tư xây dựng và đi vào sản xuất; Công ty cổ phần chăn nuôi Bá Thước đi vào hoạt động với quy mô chăn nuôi 987 con bò thịt. Hơn nữa thịt trâu, bò ngày càng được người dân ưa chuộng nên giá cả, thị trường khá ổn định, hiệu quả kinh tế cao, dịch bệnh  trong kỳ được kiểm soát.

Tổng đàn lợn 945.304 con, tăng 7.1% so với cùng kỳ là do tác động lớn của giá cả thị trường vì giá thịt lợn hơi năm nay tăng nhiều so với cùng kỳ năm trước, có thời điểm lên đến trên 50 ngàn đồng/1kg thịt hơi. Đàn lợn tăng cả 3 miền nhưng chủ yếu tăng ở miền biển vì  nơi đây tập trung nhiều gia trại lợn nhất. Khu vực miền núi, ít khu công nghiệp, nhà máy,ngành nghề không đa dạng nên người dân ít có cơ hội chuyển đổi nghề sản xuất, chủ yếu vẫn sống bằng nghề nông, vì vậy đàn lợn có tính ổn định và phát triển.

Khu vực đồng bằng tăng nhưng ở mức thấp nhất trong 3 miền, vì nơi đây khu công nghiệp, nhà máy nhiều,  ngành nghề sản xuất đa dạng nên người dân có nhiều lựa chọn hơn. Có 15/27 huyện có đàn lợn tăng so với CK, một số huyện tăng nhiều như Nông Cống, Hậu Lộc, Tỉnh Gia, Thạch Thành, Như Thanh... Trong tổng đàn lợn, khu vực miền núi (11 huyện) có 292.999 con, chiếm 30,9%; đồng bằng 309.405 con chiếm 32,7%, miền biển 342.900 con, chiếm 36,3%. Như vậy đàn lợn tập trung phân bổ đều ở 3 miền và chăn nuôi theo mô hình nông hộ nhỏ lẻ là vẫn chủ yếu. Trong tổng đàn lợn, hộ (dưới 30 con lợn) ở khu vực nông thôn có 608.080con, chiếm 64,3%, hộ khu vực thành thị 15.590 con, chiếm 1,6%; gia trại (từ 30 con lợn trở lên) có 161.451con, chiếm 17,%; trang trại có 145.577con, chiếm 15,4%, còn lại là các DN,HTX chiếm 1,5% so với tổng đàn lợn cả tỉnh.

Thực tế cho thấy chăn nuôi theo mô hình hộ nhỏ lẻ kém hiệu quả, khó kiểm soát được dịch bệnh và bảo đảm vệ sinh môi trường đang có xu hướng giảm, chuyển dần sang chăn nuôi tập trung theo hình thức gia trại và trang trại đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Tại thời điểm 01/10/2016  toàn tỉnh có 213.168  hộ có chăn nuôi lợn, giảm 3287 hộ so với 01/10/ 2015. Như vậy số hộ chăn nuôi lợn có xu hướng giảm dần, số hộ chăn nuôi  gia trại tăng lên cả về số lượng và quy mô, thời điểm 01/10/2016 bình quân một gia trại nuôi 48 con/gia trại, so với 44 con/gia trại điều tra 01/10/2015.

Kỳ điều tra 01/10/2016, toàn tỉnh có 465 trang trại lợn (có giá trị sản lượng hàng hoá đạt 1 tỷ đồng/năm trở lên) so với kỳ điều tra 01/10/2015 tăng 96 cái. Một số huyện có số lượng trang trại nhiều như: Vĩnh Lộc, Nga Sơn, Yên Định, Thọ Xuân, Hậu Lộc ,... trong đó hầu hết  qui mô nuôi từ 650 lợn trở lên, trong đó có nhiều trang trại nuôi gia công cho các DN, công ty trong và ngoài tỉnh. 

Chăn nuôi lợn tập trung ngày càng chứng tỏ được ưu thế so với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ vì nguồn thức ăn công nghiệp dồi dào đáp ứng được nhu cầu  phát triển chăn nuôi quy mô lớn. Kỹ thuật chăn nuôi được nâng lên, công tác phòng ngừa dịch bệnh tốt; việc cấm sử dụng các chất cấm trong chăn nuôi triệt để, tạo tâm lý an tâm cho người dân, sản phẩm thịt lợn tiêu thụ tốt, giá cả đảm bảo  người chăn nuôi lợn có lãi và do chính sách hỗ trợ của các địa phương trong việc nuôi gia công khuyến khích các trang trại chăn nuôi lợn phát triển.

Tổng đàn gia cầm 18.5 triệu con, tăng 4,1% so cùng kỳ năm trước (trong đó khu vực đồng bằng tăng 0,1%, miền biển tăng 0.2 %, miền núi tăng 18,0%). Một số huyện có số lượng gia cầm tăng khá như: Thạch Thành, Cẩm Thủy. Đàn gia cầm tăng vì hiện nay công tác kiểm soát gia cầm nhập lậu được tăng cường; phòng chống dịch bệnh tốt, hoặc khi xảy ra đã được ngăn chặn và khống chế kịp thời, mặt khác giá cả ổn định đã tạo tâm lý cho người dân yên tâm đầu tư phát triển.

Tại thời điểm 01/10/2016: Khu vực nông thôn có 485,2 nghìn hộ có chăn nuôi với số lượng gia cầm 16,2 triệu con, chiếm 88,1% tổng đàn; khu vực thành thị (17,1 nghìn hộ có chăn nuôi) với tổng đàn là 488 nghìn con, chiếm 2,6% tổng đàn; gia trại gia cầm 304 cái có 535 nghìn con, chiếm 2,8%, bình quân 1.760 con/gia trại; trang trại 188 cái có 1.140 nghìn con, chiếm 6,1%, còn lại là các DN,HTX. Tuy nhiên, mô hình chăn nuôi  gia cầm ở hộ  vẫn là chủ yếu, chăn nuôi theo mô hình gà vườn cũng đang phát huy hiệu quả, sử dụng thức ăn từ sản phẩm nông nghiệp, giảm thiểu dịch bệnh, chất lượng thịt gia cầm tốt hơn,...Vì vậy bên cạnh việc khuyến khích chăn nuôi tập trung quy mô lớn, ngành nông nghiệp cũng cần phải chú ý áp dụng các tiến bộ khoa học như dùng đệm lót sinh học, tiêm phòng..vv  để đảm bảo  công tác vệ sinh môi trường, quản lý phòng trừ dịch bệnh đàn gia cầm ở khu vực nông hộ bởi vì chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ ở hộ trên địa bàn tỉnh vẫn còn chiếm tỷ lệ cao trong một vài năm nữa.

Biểu số lượng và sản phẩm chăn nuôi thời điểm 01/10/2016

Về sản lượng: Kết quả điều tra  cho thấy tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 220 nghìn tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ. Trong đó sản lượng thịt hơi trâu đạt 14 nghìn tấn, tăng 114 tấn; sản lượng thịt hơi bò 15,7 nghìn tấn, tăng 449 tấn; sản lượng thịt hơi lợn 139,5 nghìn tấn, tăng 3.782 tấn; sản lượng thịt hơi gia cầm giết mổ 40,0 nghìn tấn, tăng 997 tấn so với cùng kỳ. Sản lượng trứng gia cầm  127.864 nghìn quả, tăng 6.307 nghìn quả; sản lượng sữa bò tươi đạt 9.421 tấn, gấp 1,7 lần so với năm 2015,...

Kết quả sản lượng thịt hơi xuất chuồng phản ánh thực tế tình hình nhu cầu thực phẩm tiêu thụ trên thị trường. Đàn trâu, bò phần lớn là trâu, bò thương phẩm và hiện nay thịt trâu, bò đang ngày càng được ưa chuộng, dẫn đến sản lượng xuất chuồng thịt trâu, bò đang có xu hướng ngày càng tăng lên. Nhu cầu tương quan cung cầu thịt thực phẩm vẫn đảm bảo, nên thị trường chăn nuôi trong tỉnh ổn định tích cực. Hiện nay chất lượng con giống gia súc gia cầm ngày càng được cải thiện, nhiều giống mới có năng suất và chất lượng cao đã được đưa vào chăn nuôi. Công nghệ tiến tiến đã được áp dụng trong chăn nuôi lợn trang trại (hệ thống lồng, chuồng kín; hệ thống làm mát; máng ăn, máng uống tự động; quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, công nghệ cai sữa sớm cho lợn con...) làm tăng sản phẩm chăn nuôi cả về số lượng và chất lượng.

 Kết quả điều tra chăn nuôi 01/10/2016 cho thấy những chính sách hỗ trợ kịp thời của tỉnh, huyện đã giúp ngành chăn nuôi tỉnh nhà  ổn định và phát triển. Dịch bệnh đối với gia súc, gia cầm cơ bản được khống chế và kiểm soát tốt; tuy có xảy ra ở một vài địa phương nhưng phạm vi hẹp và được bao vây dập dịch kịp thời. Do vậy tổng đàn các loại vật nuôi trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2015 và đạt được kết quả tương  đối khá;  Đàn lợn,bò, trâu, gia cầm ổn định và phát triển. Sản lượng thịt hơi các loại, sản lượng trứng, sữa tăng đảm bảo nhu cầu thực phẩm cho các tầng lớp dân cư trong tỉnh và cung cấp một phần không nhỏ ra tỉnh ngoài, đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp và  góp phần quan trọng vào tăng trưởng của ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ./.    

 

<

Tin mới nhất

Kết quả điều tra chăn nuôi 1/4/2017(24/05/2017 11:05 SA)

Chỉ số giá tiêu dùng chỉ số vàng và đô la mỹ tháng 4 năm 2017(03/05/2017 9:37 SA)

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2017(03/05/2017 9:27 SA)

Chỉ số giá tiêu dùng chỉ số vàng và đô la mỹ tháng 3 năm 2017(29/03/2017 10:16 SA)

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và Quý 1 năm 2017(29/03/2017 9:58 SA)

Chỉ số giá tiêu dùng chỉ số vàng và đô la mỹ tháng 2 năm 2017(28/02/2017 9:41 SA)

218 người đang online