Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa tháng 11 và 11 tháng năm 2017

Đăng ngày 29 - 11 - 2017
100%

1. Sản xuất nông nghiệp 1.1 Trồng trọt a. Kết quả sản xuất vụ thu mùa Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh 166,8 nghìn ha, đạt 97,5% kế hoạch, giảm 1,9% so với cùng kỳ. Năng suất lúa mùa đạt 52,1 tạ/ha, đạt 99,2% kế hoạch, giảm 3,0% so với cùng kỳ (giảm 1,6 tạ/ha); năng suất ngô 40,4 tạ/ha, đạt 93,9% kế hoạch và giảm 0,3% so cùng kỳ; sản lượng lương thực có hạt 729,4 nghìn tấn, đạt 98,8% kế hoạch và giảm 4,7% so với vụ mùa năm 2016.

Hiện này, các địa phương đang bắt đầu thu hoạch mía, sắn nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến đường, tinh bột sắn. Dự kiến năng suất mía 585,5 tạ/ha, đạt 88,6% kế hoạch, bằng năm 2016; sản lượng 1.690,6 nghìn tấn, đạt 85,3% kế hoạch và giảm 6,7% so cùng kỳ; năng suất sắn 148,2 tạ/ha, đạt 89,8% kế hoạch, tăng 0,5% so cùng kỳ; sản lượng 223,2 nghìn tấn, đạt 96,6% kế hoạch và giảm 16,2% so cùng kỳ. 
b. Tiến độ sản xuất vụ đông
Theo báo cáo tiến độ sản xuất của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến ngày 16/11/2017 toàn tỉnh gieo trồng được 38.607 ha các loại cây trồng vụ đông, đạt 81,8% kế hoạch; trong đó, ngô 13.850 ha, lạc 1.340 ha, đậu tương 344,9 ha, khoai lang 2.778,5 ha, khoai tây 999,5 ha, rau đậu các loại 15.880,1 ha... Các địa phương đang tập trung chăm sóc diện tích đã gieo trồng, phòng trừ sâu bệnh và tiếp tục gieo trồng những cây còn thời vụ, đặc biệt là các loại cây có giá trị kinh tế cao như: khoai tây, cà chua, ớt... 
1.2 Chăn nuôi
Theo kết quả sơ bộ điều tra chăn nuôi 01/10/2017, tổng đàn trâu 200,7 nghìn con, giảm 0,5% so với cùng kỳ; đàn bò 254 nghìn con, tăng 6,2%; đàn lợn 785,1 nghìn con, giảm 16,9%; gia cầm 18,7 triệu con, tăng 1,2%. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 222,8 nghìn tấn, tăng 1,2% so cùng kỳ; trong đó thịt trâu hơi xuất chuồng 14,1 nghìn tấn, tăng 0,7%; thịt bò hơi xuất chuồng 16,9 nghìn tấn, tăng 7,6%; thịt lợn hơi xuất chuồng 135,8 nghìn tấn, giảm 2,7%. 
2. Thuỷ sản
Ước tính sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng tháng 11/2017 đạt 12,8 nghìn tấn, tăng 0,7% so tháng trước, giảm 1,3% so với cùng kỳ; trong đó, sản lượng khai thác 9,4 nghìn tấn, tăng 9,2% và tăng 9,7%; riêng khai thác xa bờ 3,7 nghìn tấn, tăng 12,2% và tăng 5,9%; sản lượng nuôi trồng 3,4 nghìn tấn, giảm 17,2% so với tháng trước và giảm 22,7% so cùng kỳ. Luỹ kế 11 tháng, sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 144,1 nghìn tấn, đạt 91,3% và tăng 4,0%; trong đó, sản lượng khai thác 98,3 nghìn tấn, tăng 7,2%, sản lượng nuôi trồng 45,8 nghìn tấn, giảm 2,1% so cùng kỳ.
3. Công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 11/2017 tăng 5,03% so tháng trước và tăng 12,31% so tháng cùng kỳ; trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 2,32% so tháng trước và giảm 0,26% so tháng cùng kỳ; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,11% so với tháng trước và tăng 12,90% so với tháng cùng kỳ; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 4,90% so tháng trước và tăng 7,06% so tháng cùng kỳ; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,09% so tháng trước và tăng 14,83% so tháng cùng kỳ. 
Tính chung 11 tháng năm 2017, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành tăng 9,16% so với cùng kỳ (11 tháng năm 2016 tăng 8,67%); trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 1,73%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,32%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 7,64%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,79% so cùng kỳ.
4. Xây dựng, vốn đầu tư
Dự ước, tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tháng 11/2017 (chưa tính vốn dân cư) đạt 4.919 tỷ đồng, tăng 12,3% so với tháng trước và tăng 11,7% so với cùng kỳ, trong đó các đơn vị địa phương quản lý 1.243,3 tỷ đồng, tăng 18,6% và tăng 1,5%; các đơn vị Trung ương quản lý 1.546,6 tỷ đồng, tăng 6,1% và tăng 8,9%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.129,1 tỷ đồng, tăng 13,7% so với tháng trước và tăng 21,2% so với cùng kỳ.
Luỹ kế 11 tháng năm 2017, tổng vốn đầu tư (chưa tính vốn dân cư) ước đạt 47.160 tỷ đồng, giảm 30,2% so cùng kỳ; trong đó, các đơn vị địa phương quản lý 11.437 tỷ đồng, tăng 6,0%; các đơn vị Trung ương quản lý 14.739,2 tỷ đồng, tăng 6,8%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 20.983,7 tỷ đồng, giảm 51,2%. 
5. Vận tải
Tháng 11, vận chuyển hàng hoá ước đạt 4,6 triệu tấn, luân chuyển hàng hoá ước đạt 212,7 triệu tấn.km, tăng 0,8% về tấn, giảm 0,8% về tấn.km so với tháng trước; tăng 8,3% về tấn, tăng 1,1% về tấn.km so với cùng kỳ; vận chuyển hành khách 3,0 triệu người, luân chuyển hành khách 179,1 triệu người.km, tăng 1,3% về hành khách, tăng 1,3% về hành khách.km so với tháng trước; tăng 6,9% về hành khách, tăng 11,2% về hành khách.km so với cùng kỳ. Bốc xếp qua cảng ước đạt 519 nghìn tấn, tăng 3,8% so với tháng trước, giảm 10,1% so với cùng kỳ; cảng Nghi Sơn 498 nghìn tấn, tăng 3,7%, giảm 7,6%; cảng Lễ Môn 21 nghìn tấn, tăng 6,7% so với tháng trước, giảm 46,3% so cùng kỳ. 
Luỹ kế 11 tháng năm 2017, vận chuyển hàng hoá ước đạt 47,2 triệu tấn, luân chuyển hàng hoá ước đạt 2.469,7 triệu tấn.km, tăng 8,4% về tấn, tăng 2,0% về tấn.km so với cùng kỳ; vận chuyển hành khách 36,2 triệu người, luân chuyển hành khách 2.159,8 triệu người.km, tăng 8,4% về hành khách, tăng 11,2% về hành khách.km so với cùng kỳ. Bốc xếp qua cảng ước đạt 8.510 nghìn tấn, tăng 57,8% so với cùng kỳ; cảng Nghi Sơn 8.227 nghìn tấn, tăng 63,4%; cảng Lễ Môn 283 nghìn tấn, giảm 20,9% so cùng kỳ.
Cảng hàng không Thọ Xuân từng bước ổn định về lượng hành khách đi và đến, đáp ứng yêu cầu khai thác thực tế của tỉnh Thanh Hóa. Tính đến ngày 31/10/2017, Cảng đã đón được 725,9 nghìn lượt hành khách đi và đến, tăng 5,1% so với cùng kỳ.
6. Thương mại, dịch vụ và giá cả
6.1 Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ
Tháng 11, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ ước đạt 7.497 tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước, tăng 16,7% so với cùng kỳ, trong đó kinh tế Nhà nước 130,9 tỷ đồng, giảm 0,5% so tháng trước, giảm 41,3% so với cùng kỳ; kinh tế tập thể 4,9 tỷ đồng, tăng 0,9% so tháng trước, tăng 12,3% so với cùng kỳ; kinh tế cá thể 4.378,9 tỷ đồng, tăng 2,1% so tháng trước, tăng 18,8% so với cùng kỳ; kinh tế tư nhân 2.959,9 tỷ đồng, tăng 1,5% so tháng trước, tăng 18,9% so với cùng kỳ; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 22,1 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước, giảm 5,9% so với cùng kỳ. Trong các ngành kinh doanh, thương nghiệp tăng 1,9% so với tháng trước, tăng 16,9% so với cùng kỳ; khách sạn nhà hàng tăng 1,3% so với tháng trước, tăng 16,1% so với cùng kỳ; du lịch lữ hành tăng 0,2% so với tháng trước, tăng 13,9% so với cùng kỳ; dịch vụ tăng 1,8% so với tháng trước, tăng 14,6% so với cùng kỳ. Luỹ kế 11 tháng năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ ước đạt 75.328 tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ.
6.2 Hoạt động khách sạn - du lịch lữ hành
Tháng 11, số lượt khách khách sạn phục vụ ước đạt 408,6 nghìn lượt khách, tăng 0,2% so với tháng trước, tăng 13,1% so với cùng kỳ; ngày khách phục vụ đạt 697,4 nghìn ngày khách, tăng 0,2% so với tháng trước, tăng 13,1% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành đạt 8,1 tỷ đồng, tăng 0,2% so tháng trước, tăng 13,9% so với cùng kỳ; lượt khách du lịch theo tour đạt 4.112 lượt khách, tăng 0,1% so tháng trước, tăng 9,1% so với cùng kỳ; ngày khách du lịch theo tour đạt 13.070 ngày khách, tăng 0,2% so tháng trước, tăng 9,0% so với cùng kỳ.
Lũy kế 11 tháng năm 2017, số lượt khách khách sạn phục vụ ước đạt 5.256 nghìn lượt khách, tăng 13,1% so với cùng kỳ; ngày khách phục vụ đạt 8.715 nghìn ngày khách, tăng 13,1% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành đạt 95,9 tỷ đồng, tăng 20,0% so với cùng kỳ; lượt khách du lịch theo tour đạt 47.721 lượt khách, tăng 17,4% so với cùng kỳ; ngày khách du lịch theo tour đạt 149.097 ngày khách, tăng 17,8% so với cùng kỳ.
6.3 Giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2017 tăng 0,63% so với tháng trước, có Tám nhóm hàng hoá giá cả tăng là: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,07% (lương thực tăng 3,03%; thực phẩm tăng 0,97%); nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,03%; nhóm nhà ở điện, nước, chất đốt, VLXD tăng 0,88%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm giao thông tăng 0,52%; nhóm giáo dục tăng 0,75%; nhóm văn hóa, giả trí và du lịch tăng 0,18%. Hai nhóm hàng hóa giá cả ổn định không tăng là: nhóm đồ uống và thuốc lá và nhóm bưu chính viễn thông; riêng nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%.  Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 năm 2017 tăng 2,09% so với tháng 12 năm 2016 và tăng 3,53% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân Mười tháng đầu năm 2017 tăng 2,78% so với bình quân cùng kỳ. Đây là năm có chỉ số giá tiêu dùng bình quân Mười tháng đạt mức tăng giá thấp trong những năm qua (năm 2010 tăng 8,67%; năm 2011 tăng 20,24%; năm 2012 tăng 8,88%; năm 2013 tăng 10,62%; năm 2014 tăng 4,08%; năm 2015 tăng 0,46%; năm 2016 tăng 2,01%). 
6.4 Chỉ số vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 10/2017 giảm 1,11% so với tháng trước, tăng 0,77% so với cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ giảm 0,02% tháng trước, tăng 1,86% so với cùng kỳ.
7. Tài chính - Ngân hàng 
7.1 Tài chính 
Thu ngân sách Nhà nước tháng 11/2017 ước đạt 1.210,3 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ. Một số khoản thu tăng so cùng kỳ có: Thu từ doanh nghiệp Nhà nước Trung ương tăng 21,0%; thu từ doanh nghiệp Nhà nước địa phương tăng 4,5%; thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh tăng 40,4%... Luỹ kế 11 tháng năm 2017, tổng thu ước đạt 11.487 tỷ đồng, tăng 0,9% so cùng kỳ.
Chi ngân sách địa phương tháng 11/2017 ước đạt 2.213,7 tỷ đồng, bằng 80,9% so cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển bằng 59,5%; chi thường xuyên tăng  8,6% so cùng kỳ; chi khác bằng 48,6%. Luỹ kế 11 tháng năm 2017, tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 24.068,4 tỷ đồng, bằng 83,4% so cùng kỳ.
7.2. Ngân hàng
Ước tính đến 30/11/2017, tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng (không bao gồm Ngân hàng Phát triển) ước đạt 72.035 tỷ đồng, tăng 17,7% so với năm 2016; tổng dư nợ (không bao gồm Ngân hàng Phát triển) ước đạt 88.873 tỷ đồng, tăng 18,8% so với năm 2016.
8. Các vấn đề xã hội
8.1 Đời sống dân cư
Trong tháng 11, tại các địa phương chịu ảnh hưởng của đợt mưa lũ do áp thấp nhiệt đới gây ra trong tháng 10; các ngành các cấp đã tập trung chỉ đạo bà con nông dân tiếp tục khắc phục hậu quả thiên tai, xử lý ô nhiễm môi trường sau lũ, vệ sinh chuồng trại chăn nuôi, ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là gieo trồng các loại cây ngắn ngày vụ đông trong khung thời vụ cho phép. Theo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, tính đến ngày 10/11/2017 toàn tỉnh không phát sinh hộ thiếu đói; tính chung 11 tháng năm 2017, tỷ lệ hộ thiếu đói là 0,09% tăng 0,08% so với cùng kỳ.
8.2 Giáo dục
Các trường học trong tỉnh đã hoàn thành công tác tuyển sinh năm học 2017-2018 và huy động triệt để số học sinh trong độ tuổi ra lớp ở các cấp học, ngành học. Kết quả, giáo dục mầm non, tỉ lệ huy động các cháu ra nhà trẻ đạt 25,5% kế hoạch, mẫu giáo đạt 95,8%, trong đó trẻ 5 tuổi ra học lớp mẫu giáo đạt 99,5%; giáo dục tiểu học, tỉ lệ huy động học sinh vào lớp 1 đạt 99,95%; giáo dục THCS, tỉ lệ huy động học sinh vào lớp 6 đạt 99,8%; giáo dục THPT, tỉ lệ học sinh vào lớp 10 đạt 98,9% kế hoạch; giáo dục thường xuyên, tỉ lệ học sinh vào lớp 10 đạt 50% kế hoạch.
Sáng ngày 14/11, Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức lễ tổng kết hội thi giáo viên dạy giỏi bậc THPT cấp tỉnh năm học 2017 - 2018. Hội thi được tổ chức từ ngày 03/10 - 14/11/2017, thu hút sự tham gia của 719 giáo viên đến từ 99 trường THPT trên địa bàn tỉnh. Tại lễ tổng kết, lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo đã trao danh hiệu giáo viên dạy giỏi cho 376 giáo viên và  trao giấy khen cho 14 giáo viên có thành tích xuất sắc tại hội thi.
8.3 Y tế
Theo báo cáo của ngành Y tế, lũy kế từ đầu năm đến ngày 05/11/2017, toàn tỉnh đã ghi nhận 3.136 ca sốt xuất huyết tại 577 xã thuộc 27 huyện, thị xã, thành phố (trong đó có 313 ca nguyên phát tại 120 xã thuộc 21 huyện, thị xã, thành phố), chưa có trường hợp tử vong do bệnh gây ra; 11 ca bệnh do liên cầu lợn ở người, trong đó 1 ca tử vong; 9 ca sởi; 705 ca tay chân miệng; 5 ca tử vong do bệnh dại; 7 ca hội chứng liệt mềm cấp nghi bại liệt; 42 ca uốn ván; 197 ca vi rút viêm gan B; 21 ca vi rút viêm gan C; 12 ca viêm não Nhật Bản; 29 ca viêm não vi rút khác, trong đó 2 ca tử vong.
Tháng 11, ngành Y tế đã triển khai kịp thời và đồng bộ các giải pháp phòng chống dịch bệnh, đặc biệt dịch sốt xuất huyết; tập trung xử lý môi trường, khắc phục hậu quả sau mưa lũ. Vì vậy, tình hình dịch bệnh cơ bản ổn định, dịch sốt xuất huyết được khống chế và có chiều hướng thuyên giảm; các chương trình mục tiêu quốc gia được thực hiện tốt, cụ thể như: triển khai chiến dịch bổ sung Vitamin A liều cao đợt 2 năm 2017; hưởng ứng tuần lễ dinh dưỡng; xây dựng ban hành tháng hành động quốc gia về phòng, chống HIV/AIDS năm 2017.
8.4 Văn hoá - Thể dục thể thao
Tháng 11, ngành Văn hoá thông tin, Truyền thông tổ chức tuyên truyền các chủ chương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các sự kiện chính trị, các ngày kỷ niệm, lễ, tết, trọng tâm là: Nghị quyết TW4, Nghị quyết TW5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; Chỉ thị số 05- CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; các ngày kỷ niệm: Ngày Pháp luật Việt Nam (9/11), Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11), Ngày Di sản văn hóa (23/11); biển, đảo năm 2017; sự kiện APEC Việt Nam 2017. 
Một số hoạt động văn hoá, nghệ thuật nổi bật diễn ra trong tháng, như: Tham gia cuộc thi “Tài năng trẻ diễn viên sân khấu cải lương và dân ca kịch chuyên nghiệp toàn quốc năm 2017” tại Đồng Nai đạt 1 HCB, 2 Bằng khen của Hội Nhạc sỹ sân khấu Việt Nam; tổ chức chung kết Liên hoan nghệ thuật hát về quê hương Thanh Hóa; biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, các sự kiện, lễ hội và công chúng tại các địa phương trong và ngoài tỉnh.
Phong trào thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì; tổ chức thành công Hội thi thể thao các dân tộc tỉnh Thanh Hóa lần thứ VII năm 2017 tại huyện Ngọc Lặc (trong chương trình Đại hội TDTT tỉnh Thanh Hóa lần thứ VIII); tham gia hội thi có hơn 400 cán bộ, HLV, VĐV của 13 đoàn thể thao của các đơn vị trong tỉnh; kết quả huyện Như Thanh đạt giải Nhất, huyện Thạch Thành đạt giải Nhì, huyện Ngọc Lặc đạt giải Ba toàn đoàn. 
Thể thao thành tích cao tiếp tục được quan tâm; tháng 11, UBND tỉnh đã phối hợp với Liên đoàn Bóng chuyền Việt Nam tổ chức Giải bóng chuyền Cúp PV Đạm Cà Mau năm 2017; duy trì ổn định việc tập luyện của các đội tuyển để chuẩn bị lực lượng VĐV tham gia Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VII năm 2018; tham gia 8 giải quốc gia, quốc tế giành 54 huy chương,  gồm 17 HCV, 18HCB, 19 HCĐ. Kết thúc vòng đấu thứ 25 Giải Vô địch quốc gia Toyota V.League 2017, Đội bóng đá FLC Thanh Hóa cùng với 2 đội bóng đá khác đều đạt 45 điểm, nhưng xếp thứ ba trên tổng số 14 đội tham dự giải.
8.5 Môi trường; cháy, nổ
Môi trường: Tháng 10, trên địa bàn tỉnh xảy ra 2 vụ vi phạm môi trường (huyện Hoằng Hóa 1 vụ, huyện Như Xuân 1 vụ), xử phạt hành chính 27,5 triệu đồng.
Cháy, nổ: Tháng 10, trên địa bàn tỉnh xảy ra 12 vụ cháy (TP Thanh Hóa 7 vụ; các huyện Hoằng Hóa, Hà Trung, Vĩnh Lộc, Ngọc Lặc, Nông Cống mỗi huyện 1 vụ); tổng  thiệt hại khoảng 1,8 tỷ đồng.
8.6 An toàn giao thông
Tháng 10, lực lượng Cảnh sát giao thông, Thanh tra giao thông, Cảnh sát cơ động phối hợp với các ngành, các địa phương huy động lực lượng, phương tiện, triển khai đồng bộ các biện pháp công tác, bố trí lực lượng, tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm an toàn giao thông. Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, tháng 10/2017 xảy ra 60 vụ tai nạn giao thông, tăng 30% so với cùng kỳ; làm chết 17 người, tăng 21% so với cùng kỳ; bị thương 48 người, tăng 11,6% so với cùng kỳ. Tính chung Mười tháng đầu năm 2017, toàn tỉnh xảy ra 477 vụ tai nạn giao thông, làm 141 người chết và 388 người bị thương (giảm 0,2% về số vụ, giảm 6,6% về số người chết, giảm 6,5% về số người bị thương so với cùng kỳ).
Lực lượng Công an, Thanh tra giao thông thường xuyên tăng cường tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn tình trạng đua xe trái phép, không đội mũ bảo hiểm, xe ô tô chạy quá tốc độ, quá tải, xe khách chở quá số người qui định. Tháng 10/2017, lực lượng cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động đã kiểm tra, xử lý 4.091 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, tạm giữ 915 phương tiện các loại, tước giấy phép lái xe 345 trường hợp, số tiền phạt vi phạm nộp ngân sách 5.373 triệu đồng. Lực lượng thanh tra giao thông đã lập biên bản vi phạm hành chính và xử phạt 18 trường hợp, nộp Kho bạc Nhà nước 128 triệu đồng.
Khái quát lại, tháng 11, với sự cố gắng, nỗ lực phấn đấu của các doanh nghiệp cùng toàn thể nhân dân trong tỉnh, nên kết quả sản xuất có nhiều chỉ tiêu đạt khá so với cùng kỳ như chỉ số sản xuất công nghiệp, sản lượng vận tải, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ… Tuy nhiên, tình hình sản xuất của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, tiến độ thực hiện một số công trình dự án còn chậm, nhất là các dự án công nghiệp; sản xuất vụ đông gặp nhiều khó khăn, bất lợi do hậu quả của mưa lũ để lại./.
File đính kèm : So lieu KT-XH thang 11 nam 2017
 

 

<

Tin mới nhất

Chỉ số giá tiêu dùng chỉ số vàng và chỉ số đô la mỹ tỉnh Thanh Hóa tháng 01 năm 2018(29/01/2018 10:21 SA)

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2018(29/01/2018 9:59 SA)

Chỉ số giá tiêu dùng chỉ số vàng và chỉ số đô la mỹ tỉnh Thanh Hóa tháng 12 năm 2017(29/12/2017 10:54 SA)

Tình hình kinh tế - xã hội năm 2017 Tỉnh Thanh Hóa(29/12/2017 10:26 SA)

Chỉ số giá tiêu dùng chỉ số vàng và chỉ số đô la mỹ tỉnh Thanh Hóa tháng 11 năm 2017(29/11/2017 1:56 CH)

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa tháng 11 và 11 tháng năm 2017(29/11/2017 1:44 CH)

434 người đang online