Cổng thông tin điện tử tỉnh thanh hóa

Cục thống kê

Thứ bảy, ngày 21 tháng 9 năm 2019

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2018

Đăng ngày 29 - 11 - 2018
100%

 

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
a) Trồng trọt
a1) Kết quả sản xuất vụ thu mùa

Vụ thu mùa năm 2018 diễn biến thời tiết phức tạp, gây bất lợi đến sản xuất. Đầu vụ gieo trồng gặp các đợt nắng nóng kéo dài, tiếp đến là các đợt mưa lớn do ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới đã gây ra nhiều thiệt hại cho sản xuất, tại nhiều địa phương trong tỉnh, lúa bị ngập úng; ngô, mía bị đổ gãy; rau màu bị hư hại; đồng thời, do diễn biến thời tiết phức tạp, nên phát sinh nhiều sâu bệnh gây hại trên các loại cây trồng, đặc biệt là cây lúa.

Tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh 165 nghìn ha, đạt 96,5% kế hoạch, giảm 1,1% so với cùng kỳ. Năng suất lúa mùa đạt 49,3 tạ/ha, đạt 84,3% kế hoạch, giảm 5,4% so với cùng kỳ (giảm 2,8 tạ/ha); năng suất ngô 39,3 tạ/ha, đạt 91,5% kế hoạch và giảm 2,7% so cùng kỳ; sản lượng lương thực có hạt 674 nghìn tấn, đạt 93,5% kế hoạch và giảm 7,7% so với vụ mùa năm 2017.

a2) Tiến độ sản xuất vụ đông

Theo báo cáo tiến độ sản xuất của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến ngày 15/11/2018 toàn tỉnh gieo trồng được 46.858 ha các loại cây trồng vụ đông, đạt 93,7% kế hoạch, tăng 21,4% so với cùng thời điểm năm trước; trong đó, ngô 17.809 ha, lạc 1.363 ha, đậu tương 723 ha, khoai lang 3.665 ha, ớt 2.404 ha, rau đậu các loại và các cây trồng khác 20.894 ha. Các địa phương đang tập trung chăm sóc diện tích đã gieo trồng, phòng trừ sâu bệnh và tiếp tục gieo trồng những cây còn thời vụ, đặc biệt là các loại cây có giá trị kinh tế cao như: khoai tây, cà chua, ớt... 

b) Chăn nuôi

Đàn gia súc, gia cầm phát triển tương đối ổn định; công tác phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm được tập trung chỉ đạo thường xuyên, nên không xảy ra dịch bệnh.

Kết quả tiêm phòng cho gia súc, gia cầm đợt 2 năm 2018 tính đến ngày 15/11/2018 như sau: Vắc xin cúm gia cầm (H5N1) 2.984.000 liều, đạt 78,7% diện tiêm; vắc xin dại chó mèo 330.090 liều, đạt 91,1% diện tiêm; vắc xin tụ huyết trùng trâu bò 229.700 liều, đạt 81,5% diện tiêm; vắc xin lở mồm long móng trâu bò 232.650 liều, đạt 82,5% diện tiêm; vắc xin dịch tả lợn 332.240 liều, đạt 70,7% diện tiêm; vắc xin tụ dấu lợn 305.925 liều, đạt 65,1% diện tiêm.

1.2. Lâm nghiệp

Tính từ đầu năm đến ngày 15/11/2018, toàn tỉnh đã sản xuất được 17 triệu cây giống lâm nghiệp các loại, trong đó 9,2 triệu cây giống đủ tiêu chuẩn xuất vườn phục vụ trồng rừng trên địa bàn tỉnh; diện tích trồng rừng tập trung 10 nghìn ha, đạt 100% kế hoạch năm. 

1.3. Thuỷ sản

Ước tính sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng tháng 11/2018 đạt 14.514 tấn, tăng 1,4% so tháng trước, tăng 8,1% so với cùng kỳ; trong đó, sản lượng khai thác 10.152 tấn, tăng 0,8% và tăng 8,6%; riêng khai thác xa bờ 4.826 tấn, tăng 0,8% và tăng 8,9%; sản lượng nuôi trồng 4.362 tấn, tăng 2,8% so với tháng trước và tăng 7,1% so cùng kỳ. Luỹ kế 11 tháng, sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 155.502 tấn, tăng 7,0%; trong đó, sản lượng khai thác 106.739 tấn, tăng 7,1%, sản lượng nuôi trồng 48.763 tấn, tăng 6,7% so cùng kỳ.

2. Sản xuất công nghiệp

Tháng 11, sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh như: xi măng, thuốc lá, quần áo may sẵn, giày thể thao… tiếp tục ổn định và sản lượng đạt khá; bên cạnh đó, Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn chính thức vận hành thương mại vào ngày 15/11/2018, đóng góp lớn cho tăng trưởng của ngành công nghiệp; sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng so với tháng trước và tăng trưởng cao so với tháng cùng kỳ năm trước. 

Chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành ước tính tháng 11/2018 tăng 10,86% so với tháng trước, tăng 61,83% so với tháng cùng kỳ; trong đó, công nghiệp khai khoáng giảm 2,71% so với tháng trước, giảm 2,38% so với tháng cùng kỳ; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,11% so với tháng trước, tăng 69,08% so với tháng cùng kỳ; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 8,35% so với tháng trước, tăng 0,48% so với tháng cùng kỳ; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,95% so với tháng trước, tăng 4,68% so với tháng cùng kỳ.

Tính chung 11 tháng đầu năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành tăng 33,57% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 3,36%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 36,19%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 10,84%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,96% so cùng kỳ. 

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11/2018 dự kiến tăng 1,42% so với tháng trước, giảm 3,39% so với tháng cùng kỳ. Tính chung 11 tháng đầu năm 2018, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,72% so với cùng kỳ. 

Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/11/2018 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,77% so với thời điểm 01/10/2018; giảm 4,59% so với cùng thời điểm năm trước. 

Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/11/2018 tăng 1,51% so với thời điểm 01/10/2018; tăng 5,85% so với cùng thời điểm năm trước; trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 0,22% so với thời điểm 01/10/2018; tăng 2,20% so với cùng thời điểm năm trước; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 1,55% so với thời điểm 01/10/2018; tăng 2,19% so với cùng thời điểm năm trước; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,67% so với thời điểm 01/10/2018; tăng 7,85% so với cùng thời điểm năm trước. Tính chung 11 tháng đầu năm 2018, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 8,16% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,76%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 10,38%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước.

3. Đầu tư 

Tháng 11, các chủ đầu tư, đơn vị xây lắp tập trung nhân lực, vật lực khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm và công trình chuyển tiếp. Ước tính tháng 11/2018, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước địa phương đạt 604,3 tỷ đồng, bằng 9,6% kế hoạch năm và tăng 26,2% so cùng kỳ; bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 282,7 tỷ đồng, tăng 46,3% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 173,7 tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 147,9 tỷ đồng, tăng 14,7% so với cùng kỳ.

Lũy kế 11 tháng đầu năm 2018, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước địa phương ước đạt 5.703,4 tỷ đồng, bằng 90,7% kế hoạch năm và tăng 31,5% so cùng kỳ; bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 2.695,4 tỷ đồng, tăng 46,5% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện 1.599,9 tỷ đồng, tăng 17,4% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 1.408,1 tỷ đồng, tăng 24,2% so với cùng kỳ.

4. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 11/2018 ước đạt 6.881,8 tỷ đồng, tăng 15,2% so với tháng cùng kỳ; trong đó, kinh tế Nhà nước ước đạt 152,1 tỷ đồng, tăng 43,7%; kinh tế ngoài Nhà nước 6.704,1 tỷ đồng, tăng 14,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 25,6 tỷ đồng, tăng 34,8%. Phân theo nhóm hàng: lương thực, thực phẩm 2.296,4 tỷ đồng, tăng 14,5%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình 848,1 tỷ đồng, tăng 10,3%; xăng, dầu các loại 1.166,8 tỷ đồng, tăng 18,0% so với tháng cùng kỳ...

Luỹ kế 11 tháng đầu năm 2018, doanh thu bán lẻ hàng hoá ước đạt 72.539,3 tỷ đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ; trong đó, kinh tế Nhà nước ước đạt 1.512,2 tỷ đồng, tăng 22,9%; kinh tế ngoài Nhà nước 70.734,7 tỷ đồng, tăng 13,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 292,4 tỷ đồng, tăng 13,3%. Phân theo nhóm hàng: lương thực, thực phẩm 23.291,1 tỷ đồng, tăng 14,4%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình 9.798,2 tỷ đồng, tăng 12,4%; xăng dầu các loại 12.688,1 tỷ đồng, tăng 21,3% so với cùng kỳ...

4.2. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Tháng 11, giá xăng dầu, gas tiếp tục điều chỉnh giảm; một số mặt hàng thực phẩm như: thịt lợn, thịt gia cầm, rau củ quả tươi... giảm so với tháng trước; giá lúa gạo, ngô và hàng may mặc do thời tiết chuyển mùa tăng so với tháng trước đã tác động đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 11. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2018 giảm 0,18% so với tháng trước.

Trong 11 nhóm có Ba nhóm hàng hóa có chỉ số giá giảm là: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,38% (lương thực tăng 2,01%, thực phẩm giảm 1,06%); nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 1,25%; nhóm giao thông giảm 1,59%. Sáu nhóm hàng hóa giá cả ổn định chỉ số giá không tăng là: nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông; nhóm giáo dục; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác. Hai nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng là: nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,54%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17%. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 năm 2018 tăng 3,56% so với tháng 12 năm 2017 và tăng 3,93% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2018 tăng 3,97% so với bình quân cùng kỳ năm 2017; đây là năm có chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng đạt mức tăng cao trong những năm gần đây (11 tháng năm 2015 tăng 0,41%; 11 tháng năm 2016 tăng 2,05%; 11 tháng năm 2017 tăng 2,78%).

Chỉ số giá vàng tháng 11/2018 tăng 1,38% so với tháng trước, giảm 0,71% so với tháng 12/2017, giảm 1,05% so với tháng cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ giảm 0,03% tháng trước, tăng 2,72% so với tháng 12/2017, tăng 2,73% so với tháng cùng kỳ.

4.3. Vận tải hành khách và hàng hóa

Tháng 11, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 274,6 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ, hành khách vận chuyển 3,6 triệu người, hành khách luân chuyển 215 triệu người.km, tăng 7,9% về hành khách vận chuyển, tăng 8,0% về hành khách luân chuyển so với tháng cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 525,3 tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ; hàng hoá vận chuyển 4,8 triệu tấn, hàng hóa luân chuyển 223,5 triệu tấn.km, tăng 6,2% về hàng hóa vận chuyển, tăng 0,4% về hàng hóa luân chuyển so với tháng cùng kỳ năm trước.  

Luỹ kế 11 tháng đầu năm 2018, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.034,5 tỷ đồng, tăng 20,1% so với cùng kỳ, hành khách vận chuyển 40,2 triệu người, hành khách luân chuyển 2.382,2 triệu người.km, tăng 10,6% về hành khách vận chuyển, tăng 10,7% về hành khách luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 5.363,5 tỷ đồng, tăng 3,9% so với cùng kỳ; hàng hoá vận chuyển 50,8 triệu tấn, hàng hóa luân chuyển 2.485,1 triệu tấn.km, tăng 6,5% về hàng hóa vận chuyển, tăng 0,4% về hàng hóa luân chuyển so với tháng cùng kỳ năm trước. 

4.4. Hoạt động lưu trú - du lịch lữ hành

Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 11/2018 ước đạt 864,4 tỷ đồng, tăng 10,2% so với tháng cùng kỳ; trong đó kinh tế Nhà nước 7,0 tỷ đồng, giảm 26,5%; kinh tế ngoài Nhà nước 857,4 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cùng kỳ; phân theo ngành kinh tế: dịch vụ lưu trú 162,7 tỷ đồng, tăng 10,0%; dịch vụ ăn uống 701,7 tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2017. Lũy kế 11 tháng đầu năm 2018, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 9.211,8 tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ; trong đó kinh tế Nhà nước 78,3 tỷ đồng, giảm 1,7%; kinh tế ngoài Nhà nước 9.133,5 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ; phân theo ngành kinh tế: dịch vụ lưu trú 1.886,1 tỷ đồng, tăng 9,7%; dịch vụ ăn uống 7.325,7 tỷ đồng, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Doanh thu du lịch lữ hành tháng 11/2018 ước đạt 9,1 tỷ đồng, tăng 6,7% so với tháng cùng kỳ; lũy kế 11 tháng đầu năm 2018 ước đạt 104,3 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2017.  

Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác tháng 11/2018 ước đạt 378,8 tỷ đồng, tăng 12,9% so với tháng cùng kỳ; lũy kế 11 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3.953,7 tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm 2017.

5. Một số tình hình xã hội

5.1. Thiếu đói trong nông dân

Công tác an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được thực hiện đầy đủ, kịp thời; nhất là các chính sách ưu đãi, trợ giúp các xã đặc biệt khó khăn, các đối tượng chính sách, người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; nhiều cơ sở hạ tầng, kỹ thuật mới được đưa vào khai thác, sử dụng; nên đời sống dân cư cơ bản ổn định. Theo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, tính đến ngày 15/11 toàn tỉnh không có hộ thiếu đói.  

5.2. Y tế

Theo báo cáo của Sở Y tế, hiện nay trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn phát sinh, công tác y tế dự phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm được đẩy mạnh; thực hiện tốt việc cấp cứu, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Tuy nhiên, một số bệnh dịch xuất hiện rải rác với quy mô nhỏ, song đã được phát hiện và khống chế kịp thời. Tính từ đầu năm đến 05/11/2018 toàn tỉnh ghi nhận 171 ca sốt xuất huyết, 262 ca SPB nghi sởi, 665 ca chân tay miệng, 43 ca viêm não vi rút, 2 ca mắc bệnh dại, 11 bệnh nhân ho gà, 9 bệnh nhân uốn ván…; phát hiện và khống chế thành công 07 ổ dịch ở các huyện Quan Sơn, Bá Thước, Thường Xuân, Nông Cống và Hoằng Hóa.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được chú trọng, ngành Y tế tham mưu cho Ban chỉ đạo Quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh tổ chức Lễ phát động Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2018 quy mô cấp tỉnh. Tính từ đầu năm đến nay, đã tổ chức kiểm tra 320 cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm, xử lý 46 cơ sở vi phạm, phạt vi phạm 220 triệu đồng.

5.3. Giáo dục - Đào tạo

Ngành Giáo dục - Đào tạo tiếp tục chỉ đạo các đơn vị, trường học xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia theo kế hoạch của UBND tỉnh đã phê duyệt. Kết quả, đến hết tháng 10/2018, toàn tỉnh có 1.396/2.049 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 68,13%, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2017; gồm: mầm non 411, tiểu học 565, THCS 390, THPT 30 trường.

Toàn tỉnh đã tuyển chọn được 11 đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia các môn văn hóa THPT năm học 2018 - 2019 với 80 học sinh, gồm: đội tuyển Toán, Lý, mỗi đội 10 học sinh; đội tuyển Tin, Sinh, Văn, Sử, Địa, Anh văn, mỗi đội 8 học sinh; đội tuyển Hóa 7 học sinh, đội tuyển Pháp văn, Nga văn 2 học sinh.

5.4. Văn hoá - Thể dục thể thao

Ngành Văn hoá - Thông tin tập trung tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh và đất nước. Tổ chức biểu diễn các chương trình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị, các sự kiện, lễ hội, xây dựng nông thôn mới và công chúng tại các địa phương trong, ngoài tỉnh, nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. 
Tiếp tục đẩy mạnh phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"; tính từ đầu năm đến tháng 10/2018, toàn tỉnh có 37/70 làng, bản, tổ dân phố đăng ký xây dựng văn hóa, đạt 52,9% kế hoạch; 107/160 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đăng ký xây dựng đạt chuẩn văn hóa, đạt 66,9% kế hoạch; 17/20 xã đăng ký xây dựng đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, đạt 85% kế hoạch; 01/02 phường, thị trấn đăng ký xây dựng đạt tiêu chuẩn văn minh đô thị, đạt 50% kế hoạch.

Phong trào thể dục thể thao trong nhân dân tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao chất lượng cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại".  Toàn tỉnh hiện có 39,5% dân số tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, gia đình thể thao đạt 28,2% số hộ; 3.375 CLB thể dục thể thao. Tính từ đầu năm đến nay, tổ chức 11 giải thể thao quần chúng cấp tỉnh; 112 giải cấp huyện và 1.023 giải cấp xã/phường; phát động ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2018 với hơn 6.000 người tham gia; phối hợp tổ chức giải Marathon băng rừng quốc tế tại huyện Bá Thước; đón, tiễn đoàn đua xe đạp toàn quốc tranh Cup truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 30 năm 2018. 

Thể thao thành tích cao tiếp tục được quan tâm. Tính đến ngày 13/11/2018, các vận động viên, huấn luyện viên Thanh Hóa tham gia thi đấu 79 giải quốc gia, quốc tế; giành được 562 huy chương (186 HCV, 177 HCB, 212 HCĐ); trong đó, 8 giải quốc tế đạt 26 HCV, 21 HCB, 10HCĐ.

5.5. Tai nạn giao thông

Tháng 10, lực lượng Cảnh sát giao thông, Thanh tra giao thông, Cảnh sát cơ động phối hợp với các ngành, các địa phương huy động lực lượng, phương tiện, triển khai đồng bộ các biện pháp công tác, bố trí lực lượng, tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm an toàn giao thông. Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, tháng 10 xảy ra 65 vụ tai nạn và va chạm giao thông, giảm 29,3% so với cùng kỳ; làm chết 23 người, tăng 9,5% so với cùng kỳ; bị thương 43 người, giảm 30,6% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh xảy ra 419 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm 136 người chết và 352 người bị thương; giảm 16,7% về số vụ, giảm 10,5% về số người chết và giảm 16,6% về số người bị thương so với cùng kỳ năm 2017.

Lực lượng Cảnh sát giao thông, trật tự và cơ động đã tăng cường tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn tình trạng đua xe trái phép, không đội mũ bảo hiểm, xe ô tô chạy quá tốc độ, xe khách chở quá số người qui định, kiểm tra trọng tải phương tiện. Qua kiểm tra trong tháng 10/2018 đã phát hiện, xử phạt 8.162 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, tạm giữ 1.579 phương tiện các loại, tước kiểm định và giấy phép lái xe 530 trường hợp, tổng số tiền phạt vi phạm nộp Kho bạc Nhà nước gần 7 tỷ đồng.

Lực lượng Thanh tra giao thông trong tháng 10/2018 đã lập biên bản vi phạm hành chính xử phạt 61 trường hợp, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe có thời hạn 17 trường hợp, nộp Kho bạc Nhà nước 386,7 triệu đồng.

5.6. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Môi trường: Tháng 10, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ vi phạm môi trường (TP Thanh Hóa 2 vụ, Hậu Lộc, Quảng Xương, Cẩm Thủy, Triệu Sơn, Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Thiệu Hóa mỗi huyện 1 vụ), xử phạt hành chính 96,65 triệu đồng. Tính chung 10 tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 96 vụ vi phạm môi trường, xử phạt vi phạm 2.192 triệu đồng.  

Cháy, nổ: Tháng 10, trên địa bàn tỉnh xảy ra 9 vụ cháy (TP Thanh Hóa 5 vụ; TX Bỉm Sơn 1 vụ, huyện Tĩnh Gia 2 vụ, Hoằng Hóa 1 vụ), làm chết 1 người, bị thương 6 người, thiệt hại về tài sản 239 triệu đồng. Tính chung 10 tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 43 vụ cháy nổ, làm chết 1 người, bị thương 8 người, thiệt hại về tài sản khoảng 3 tỷ đồng.

File đính kèm: So lieu KT-XH thang 11-2018_Thanh Hoa

<

Tin mới nhất

Thanh Hóa tập huấn điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2019(20/09/2019 4:50 CH)

Kết quả điều tra chăn nuôi kỳ 01/07/2019(16/09/2019 3:02 CH)

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Tháng 8 năm 2019(29/08/2019 5:00 CH)

Tình hình kinh tế - xã hội tháng Tám và 8 tháng đầu năm 2019(29/08/2019 3:39 CH)

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa tháng Bảy và 7 tháng đầu năm 2019(29/07/2019 9:11 CH)

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 7 năm 2019(29/07/2019 9:00 CH)

759 người đang online