Cổng thông tin điện tử tỉnh thanh hóa

Cục thống kê

Chủ nhật, ngày 28 tháng 11 năm 2021

Tình hình kinh tế - xã hội tháng Mười và 10 tháng đầu năm 2021

Đăng ngày 30 - 10 - 2021
100%

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

1.1. Nông nghiệp

a) Trồng trọt

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến ngày 15/10/2021, các loại cây trồng vụ thu mùa năm 2021 đã cơ bản thu hoạch xong; trong đó, lúa 116.122 ha, đạt 96,7% diện tích gieo trồng; ngô 10.717 ha, đạt 84,3% diện tích gieo trồng; lạc 965 ha, đạt 94,4% diện tích gieo trồng; khoai lang 1.298 ha, đạt 98,2% diện tích gieo trồng; rau, đậu các loại 13.196 ha, đạt 97,4% diện tích gieo trồng; cây trồng khác 8.858 ha, đạt 86,9% diện tích gieo trồng. Kết quả gieo trồng vụ đông năm 2021 - 2022 đến cùng thời điểm nêu trên như sau: Ngô 11.868,5 ha, đạt 79,1% kế hoạch; lạc 1.269,6 ha, đạt 84,6% kế hoạch; khoai lang 1.230,1 ha, đạt 41,0% kế hoạch; rau màu các loại và cây trồng khác 13.587,2 ha, đạt 56,6% kế hoạch.      

b) Chăn nuôi

Kết quả tiêm phòng cho gia súc, gia cầm đợt 2 năm 2021 tính đến ngày 15/10/2021 như sau: vắc xin cúm gia cầm được 2.852.600 con, đạt 52,1% diện tiêm; vắc xin dại cho chó mèo được 277.600 con, đạt 78,2% diện tiêm; vắc xin tụ huyết trùng trâu bò được 143.655 con, đạt 57,9% diện tiêm; vắc xin lở mồm long móng gia súc được 158.900 con, đạt 64,1% diện tiêm; vắc xin tụ dấu lợn được 156.640 con, đạt 40,2% diện tiêm; vắc xin dịch tả lợn được 168.330 con, đạt 43,2% diện tiêm.

Từ ngày 20/9/2021 đến 16 giờ ngày 13/10/2021, trên địa bàn tỉnh, bệnh dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 115 hộ của 37 thôn thuộc 9 xã của 02 huyện Thiệu Hóa và Nông Cống, buộc phải tiêu hủy 529 con lợn, trọng lượng 35.789 kg. Để kịp thời ngăn chặn, dập tắt ổ dịch và không để lây lan ra diện rộng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo Chi cục Chăn nuôi và Thú y phối hợp với UBND các huyện có dịch tập trung triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp cấp bách để ngăn chặn, khống chế, dập tắt dịch bệnh. Bên cạnh đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã hướng dẫn cụ thể các nhiệm vụ, biện pháp phòng, chống dịch bệnh; hỗ trợ, đôn đốc cùng UBND các huyện, thị xã, thành phố lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện đồng bộ các biện pháp khống chế dịch bệnh. Đồng thời, thành lập 13 chốt kiểm soát, 03 tổ kiểm soát lưu động để kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển lợn, sản phẩm của lợn ra vào vùng dịch theo quy định. Thực hiện nghiêm việc tiêu độc, khử trùng, tiêu diệt mầm bệnh theo quy định. Đối với vùng dịch, vùng bị dịch uy hiếp thực hiện việc tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc liên tục 01 lần/ngày trong vòng một tuần đầu tiên; 03 lần/tuần trong 3 tuần tiếp theo; đối với vùng đệm, vệ sinh, khử trùng tiêu độc liên tục 01 lần/tuần liên tục trong vòng 21 ngày kể từ khi có ổ dịch.

1.2. Lâm nghiệp

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến ngày 15/10/2021, toàn tỉnh đã trồng được 4,54 triệu cây phân tán các loại; 9 nghìn ha rừng trồng tập trung, đạt 90,0% kế hoạch. Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được tăng cường; không có cháy rừng xảy ra, an ninh rừng được giữ vững.

1.3. Thuỷ sản

Nửa đầu tháng Mười, Thanh Hóa chịu ảnh hưởng của bão số 7 và số 8. Để chủ động ứng phó với diễn biến của bão và mưa lũ, bảo đảm an toàn cho tàu thuyền hoạt động trên biển; trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã cấm biển[1], giám sát chặt chẽ, không cho các tàu thuyền ra khơi trong thời gian cấm biển; hướng dẫn, sắp xếp tàu thuyền tại nơi neo đậu, tránh trú bảo đảm an toàn theo đúng quy định.

Ước tính tháng 10/2021, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản đạt 16.668 tấn, giảm 1,5% so với tháng trước, tăng 4,5% so với tháng cùng kỳ; trong đó, sản lượng khai thác 11.487 tấn, giảm 0,3% so tháng trước và tăng 4,2% so cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng 5.181 tấn, giảm 4,1% so với tháng trước và tăng 5,2% so với tháng cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm 2021, sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng ước đạt 167.123 tấn, tăng 4,5% so cùng kỳ; trong đó, sản lượng khai thác 111.613 tấn, tăng 3,9%; sản lượng nuôi trồng 55.510 tấn, tăng 5,6%.

2. Sản xuất công nghiệp

Dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ; tuy nhiên, từ ngày 14/10/2021 đến nay, trên địa bàn một số huyện, thị xã, thành phố đã xuất hiện các ca dương tính trong cộng đồng. Để đảm bảo công tác phòng, chống dịch Covid-19 theo quy định; an toàn sản xuất và sức khỏe cho người lao động; trên địa bàn các địa phương có ca dương tính, một số ít doanh nghiệp công nghiệp đã phải tạm ngừng sản xuất để thực hiện công tác truy vết, lấy mẫu xét nghiệm, đa số các doanh nghiệp còn lại đều bảo đảm phương án “3 tại chỗ” để duy trì hoạt động sản xuất. Nhìn chung, tuy chịu tác động của dịch bệnh Covid-19 nhưng sản xuất công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh vẫn tiếp tục ổn định và phát triển.  

Chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành ước tính tháng 10/2021 tăng 4,21% so với tháng trước, tăng 21,98% so với tháng cùng kỳ; trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 6,08% so với tháng trước, tăng 29,01% so với tháng cùng kỳ; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,72% so với tháng trước, tăng 20,70% so với tháng cùng kỳ; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 3,35% so với tháng trước, tăng 47,49% so với tháng cùng kỳ; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,7% so với tháng trước, tăng 34,27% so với tháng cùng kỳ. Tính chung 10 tháng đầu năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành tăng 15,84% so với cùng kỳ; trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 8,62%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,26%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 9,24%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 21,22%.

Một số sản phẩm chủ yếu tháng 10/2021 so với tháng trước và tháng cùng kỳ như sau: Xăng các loại 221,5 nghìn tấn, tăng 3,0% so tháng trước, tăng 5,7% so tháng cùng kỳ; dầu diesel 328,6 nghìn tấn, giảm 2,1% so tháng trước, tăng 11,5% so tháng cùng kỳ; bia các loại 3,2 triệu lít, giảm 14,6% so tháng trước, tăng 26,8% so tháng cùng kỳ; thuốc lá bao 15,4 triệu bao, tăng 6,2% so tháng trước, giảm 32,3% so tháng cùng kỳ; quần áo các loại 40 triệu cái, tăng 19,9% so tháng trước, tăng 20,7% so tháng cùng kỳ; giày thể thao 18,8 triệu đôi, tăng 6,4% so tháng trước, tăng 39,6% so tháng cùng kỳ; xi măng 1,54 triệu tấn, tăng 6,2% so tháng trước, tăng 14,0% so tháng cùng kỳ; sắt thép 150,2 nghìn tấn, tăng 0,6% so tháng trước, tăng 16,4% so tháng cùng kỳ; điện sản xuất 624 triệu kwh, giảm 4,0% so tháng trước, tăng 5,4% so tháng cùng kỳ; nước máy 3,16 triệu m3, giảm 1,4% so tháng trước, tăng 30,7% so tháng cùng kỳ.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2021 dự kiến tăng 1,59% so với tháng trước, tăng 14,09% so với tháng cùng kỳ. Tính chung 10 tháng đầu năm 2021, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,58% so với cùng kỳ năm trước.   

Chỉ số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2021 dự kiến tăng 13,86% so với tháng trước, tăng 24,46% so với tháng cùng kỳ năm trước.

Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 10/2021 dự kiến giảm 1,36% so với tháng trước, tăng 16,38% so với tháng cùng kỳ; trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 0,04% so với tháng trước, giảm 3,56% so với tháng cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 0,29% so với tháng trước, tăng 10,71% so với tháng cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,81% so với tháng trước, tăng 19,43% so với tháng cùng kỳ. Tính chung 10 tháng đầu năm 2021, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 18,33% so với cùng kỳ; trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 4,96%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 8,57%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 22,38% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tính chung 10 tháng đầu năm tăng cao so cùng kỳ gồm: Sản xuất kim loại tăng 32,65%; sản xuất trang phục tăng 15,65%; sản xuất giày dép tăng 27,83%.

3. Đầu tư

Tháng Mười, các đơn vị xây lắp tập trung nguồn lực thi công các công trình chuyển tiếp, công trình trọng điểm. Ước tính vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước địa phương tháng 10/2021 đạt 864,1 tỷ đồng, tăng 3,6% so tháng trước, giảm 8,5% so tháng cùng kỳ; bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 344,2 tỷ đồng, tăng 3,1% so tháng trước, giảm 2,9% so tháng cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 275,8 tỷ đồng, tăng 3,6% so tháng trước, giảm 9,6% so tháng cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 244,1 tỷ đồng, tăng 4,4% so tháng trước, giảm 14,4% so tháng cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm 2021, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 8.173 tỷ đồng, đạt 79,4% kế hoạch, giảm 0,5% so cùng kỳ; bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 3.497 tỷ đồng, giảm 0,2% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 2.523 tỷ đồng, tăng 0,9% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 2.153 tỷ đồng, giảm 2,5% so với cùng kỳ.

4. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

4.1. Hoạt động bán lẻ hàng hóa

Trên địa bàn tỉnh, dịch bệnh Covid-19 đang được kiểm soát tốt, nên kinh doanh thương nghiệp và cung cấp các dịch vụ thiết yếu vẫn hoạt động ổn định. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10/2021 ước đạt 11.326 tỷ đồng, tăng 19,3% so với tháng trước, tăng 17,0% so với tháng cùng kỳ năm trước[2]. Luỹ kế 10 tháng đầu năm 2021, doanh thu bán lẻ hàng hoá ước đạt 92.656 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước[3].

4.2. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá lương thực, thực phẩm giảm do nguồn cung bảo đảm; giá bán lẻ xăng, dầu liên tiếp điều chỉnh tăng và hiện đang ở mức cao trong 7 năm gần đây là các nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2021 giảm 0,83% so với tháng trước, tăng 1,61% so với tháng 12/2020. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng Mười tăng 1,42%. Tính chung 10 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016[4].

 Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2021 giảm 0,83% so với tháng trước. Có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, gồm: nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,03%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,60%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; nhóm giao thông tăng 1,92%. Có 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm, gồm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 3,14% (lương thực giảm 1,38%, thực phẩm giảm 4,44%); nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,24%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,22%. Bốn nhóm hàng hóa còn lại giá cả ổn định, chỉ số giá không tăng là: nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông; nhóm giáo dục; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác.

Chỉ số giá vàng tháng 10/2021 giảm 1,64% so với tháng trước, giảm 4,17% so với tháng 10/2020; bình quân 10 tháng đầu năm 2021 tăng 9,49% so với bình quân cùng kỳ năm 2020. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2021 giảm 0,09% so với tháng trước, giảm 1,80% so với tháng 10/2020; bình quân 10 tháng đầu năm 2021 giảm 1,10% so với bình quân cùng kỳ năm 2020.

4.3. Vận tải hành khách và hàng hóa

Thực hiện Công điện số 1322/CĐ-TTg ngày 10/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức hoạt động vận tải hành khách bảo đảm thích ứng, an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19; các Quyết định của Bộ Giao thông vận tải: số 1740/QĐ-BGTVT ngày 30/9/2021 về tổ chức hoạt động vận tải hành khách của 5 lĩnh vực (đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không), số 1777/QĐ-BGTVT ngày 10/10/2021 quy định tạm thời về thí điểm tổ chức hoạt động vận tải hành khách đường bộ đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Ngày 13/10/2021, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Công văn số 16025/UBND-CN về việc tổ chức hoạt động vận tải hành khách đường bộ liên tỉnh đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 trên địa bàn, theo đó, đối với các tỉnh, thành phố/khu vực có nguy cơ thấp (vùng xanh, vùng vàng theo thông báo của Bộ Y tế): Đồng ý chủ trương mở tuyến vận tải hành khách cố định liên tỉnh; giao Sở Giao thông vận tải phối hợp với Sở Giao thông vận tải các tỉnh có tuyến hành khách cố định để thống nhất lịch trình, tần suất, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định trước khi thực hiện. Đối với các tỉnh, thành phố vùng có dịch (vùng đỏ, vùng cam theo thông báo của Bộ Y tế): Cho phép thí điểm tổ chức vận tải hành khách cố định liên tỉnh đến Thanh Hóa theo Quyết định số 1777/QĐBGTVT ngày 10/10/2021 của Bộ Giao thông vận tải để vận chuyển công dân có nhu cầu, nguyện vọng về quê và đón người lao động trở lại làm việc.

Thực hiện Công văn số 16209/UBND-CN ngày 15/10/2021 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc tổ chức hoạt động vận tải hành khách đường bộ liên tỉnh từ Thanh Hóa đi/đến các tỉnh, thành phố: Sơn La, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hòa Bình, Nghệ An và ngược lại. Sở Giao thông - Vận tải Thanh Hóa đã tổ chức hoạt động thí điểm các tuyến vận tải hành khách cố định liên tỉnh từ ngày 15/10/2021 đến hết ngày 20/10/2021, hoạt động với tần suất không vượt quá 30% số chuyến trong 7 ngày của đơn vị theo lưu lượng đã được Sở Giao thông - Vận tải công bố; hành trình chạy xe theo biểu đồ đã được phê duyệt. Riêng đối với tuyến vận tải hành khách từ Thanh Hóa đi/đến thành phố Hải Phòng (bến xe: Thượng Lý, Vĩnh Niệm) hoạt động với tần suất 20% số chuyến trong 7 ngày của đơn vị theo lưu lượng đã được Sở Giao thông - Vận tải công bố; hành trình chạy xe theo biểu đồ đã được phê duyệt.

Doanh thu vận tải hành khách tháng 10/2021 ước đạt 59,6 tỷ đồng, tăng 51,4% so tháng trước, giảm 81,5% so với tháng cùng kỳ, hành khách vận chuyển 422 nghìn người, hành khách luân chuyển 24.858 nghìn người.km; so với tháng trước, tăng 44,5% về hành khách vận chuyển, tăng 44,1% về hành khách luân chuyển; so với tháng cùng kỳ năm trước, giảm 89,8% về hành khách vận chuyển, giảm 91,3% về hành khách luân chuyển. Luỹ kế 10 tháng đầu năm 2021, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.205 tỷ đồng, giảm 17,5% so với cùng kỳ, hành khách vận chuyển 22,3 triệu người, hành khách luân chuyển 1.454 triệu người.km; giảm 24,7% về hành khách vận chuyển, giảm 26,1% về hành khách luân chuyển so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 10/2021 ước đạt 668,6 tỷ đồng, tăng 15,2% so với tháng trước, giảm 0,2% so tháng cùng kỳ; hàng hoá vận chuyển 4.010 nghìn tấn, hàng hóa luân chuyển 168.897 nghìn tấn.km; so với tháng trước, tăng 13,0% về hàng hóa vận chuyển, tăng 11,4% về hàng hóa luân chuyển; so với tháng cùng kỳ năm trước, giảm 5,5% về hàng hóa vận chuyển, giảm 21,7% về hàng hóa luân chuyển. Luỹ kế 10 tháng đầu năm 2021, doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 6.262 tỷ đồng, tăng 10,0% so với cùng kỳ; hàng hoá vận chuyển 42,9 triệu tấn, hàng hóa luân chuyển 2.037,3 triệu tấn.km; tăng 3,9% về hàng hóa vận chuyển, giảm 1,4% về hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước.

4.4. Hoạt động lưu trú và ăn uống, du lịch lữ hành

Thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ về quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”, nhằm bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của người dân; hạn chế thấp nhất ca nhiễm, ca chuyển nặng, tử vong do Covid-19; khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện mục tiêu kép, đưa cả nước chuyển sang trạng thái bình thường mới sớm nhất có thể. Thanh Hóa đã từng bước khôi phục lại các hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác trong trạng thái bình thường mới.   

Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 10/2021 ước đạt 591,6 tỷ đồng, gấp 3,3 lần tháng trước, giảm 37,5% so với tháng cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm 2021 ước đạt 6.096 tỷ đồng, giảm 13,3% so với cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 10/2021 ước đạt 22,7 tỷ đồng, gấp 2,1 lần tháng trước, giảm 84,7% so với tháng cùng kỳ; số lượt khách phục vụ của khách sạn ước đạt 39,1 nghìn lượt khách, gấp 3,2 lần tháng trước, giảm 90,6% so với tháng cùng kỳ; ngày khách phục vụ đạt 130,9 nghìn ngày khách, tăng 56,8% so với tháng trước, giảm 83,9% so với tháng cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm 2021, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 977 tỷ đồng, giảm 24,7% so với cùng kỳ năm trước; số lượt khách phục vụ của khách sạn ước đạt 2.653 nghìn lượt khách, giảm 28,4% so với cùng kỳ; ngày khách phục vụ đạt 4.570 nghìn ngày khách, giảm 26,7% so với cùng kỳ.

Doanh thu du lịch lữ hành 10 tháng đầu năm 2021 ước đạt 28,85 tỷ đồng, giảm 57,4% so với cùng kỳ; lượt khách du lịch theo tour ước đạt 12,5 nghìn lượt khách, giảm 57,5% so cùng kỳ; ngày khách du lịch theo tour đạt 38,8 nghìn ngày khách, giảm 59,7% so cùng kỳ.

5. Một số tình hình xã hội

5.1. Thiếu đói trong nông dân và an sinh xã hội

Tháng 10/2021, đời sống nhân dân trong tỉnh cơ bản ổn định. các huyện, thị xã, thành phố tổ chức chi trả đầy đủ, kịp thời trợ cấp ưu đãi hằng tháng đối với 71.900 người có công với cách mạng và thân nhân, kinh phí thực hiện là hơn 142,5 tỷ đồng; đồng thời, quan tâm xử lý, giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân theo đúng quy định. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh và UBND thị xã Nghi Sơn triển khai hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19 có nhu cầu trở về quê hương; tiếp tục quan tâm triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách trợ giúp xã hội; hướng dẫn, chỉ đạo các huyện, thị xã, thành phố thực hiện chi trả trợ cấp hằng tháng cho trên 203.000 đối tượng và hộ gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng; chỉ đạo các cơ sở trợ giúp xã hội thực hiện tốt công tác quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị tập trung cho 1.160 đối tượng đảm bảo theo quy định.

5.2. Lao động, việc làm

Tháng 10/2021, toàn tỉnh giải quyết việc làm mới cho 6.850 lao động, trong đó đưa đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 185 người. Lũy kế 10 tháng đầu năm 2021, toàn tỉnh giải quyết việc làm mới cho 45.350 người, trong đó đưa đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 3.635 người. Bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển thị trường lao động, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đã quan tâm hỗ trợ giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách cho người lao động. Trong tháng, đã tiếp nhận 10.050 lượt khai báo thông tin tìm kiếm việc làm hàng tháng của người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp; tiếp nhận, thẩm định hồ sơ và ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 1.141 lao động (lũy kê 10 tháng đầu năm 2021 là 18.271 lao động, giảm 27% so với cùng kỳ năm 2020). Tiếp tục thực hiện tốt công tác quản lý lao động là người nước ngoài đến làm việc tại tỉnh, đảm bảo các quy định về phòng, chống dịch bệnh Covid-19 theo hướng dẫn của cơ quan y tế. Trong tháng, đã cấp mới giấy phép cho 77 lao động, cấp lại giấy phép cho 02 lao động, gia hạn giấy phép cho 17 lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh theo quy định.  

Sau hơn 3 tháng triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã có 7.337 doanh nghiệp, hộ kinh doanh và 284.480 người lao động được thụ hưởng các chính sách hỗ trợ, tổng kinh phí thực hiện các chính sách là gần 31,7 tỷ đồng. Cụ thể:

- Có 6.322 doanh nghiệp với 282.685 lao động được giảm mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tổng số tiền giảm mức đóng là gần 25,1 tỷ đồng;

- Có 03 doanh nghiệp với 143 lao động được tạm dừng đóng vào Quỹ hưu trí và tử tuất, tổng số tiền tạm dừng đóng là gần 429,4 triệu đồng;

- Có 04 doanh nghiệp được hỗ trợ vay gần 2,4 tỷ đồng để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất cho 805 lao động.

- Về chính sách hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt, toàn tỉnh đã phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ đối với 708 hộ kinh doanh và 847 người (trong đó có 155 trẻ em và phụ nữ mang thai được hưởng chính sách hỗ trợ bổ sung), kinh phí hỗ trợ đã phê duyệt là gần 3,74 tỷ đồng, bao gồm: 146 hướng dẫn viên du lịch, viên chức hoạt động nghệ thuật; 74 lao động tạm hoãn thực hiện HĐLĐ, nghỉ việc không hưởng lương; 208 lao động ngừng việc; 244 người hoàn thành điều trị Covid-19, cách ly y tế tập trung; 175 lao động không có giao kết hợp đồng lao động. Trong đó, đã thực hiện chi trả hỗ trợ cho 201 người và 494 hộ kinh doanh, số tiền đã chi trả là trên 02 tỷ đồng.

5.3. Y tế

Ngành Y tế tập trung đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh, thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 theo các kịch bản đã đề ra, không để dịch bệnh lây lan, bùng phát; đồng thời tiếp tục giám sát các bệnh dịch khác phát sinh trong mùa Thu - Đông, chỉ đạo các đơn vị y tế dự phòng tăng cường giám sát tại khu vực cửa khẩu, sân bay và cộng đồng nhằm phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh; tăng cường công tác đảm bảo an toàn thực phẩm; tiếp tục chỉ đạo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, ứng dụng kỹ thuật mới vào chẩn đoán và điều trị, chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân; tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ của ngành Y tế năm 2021.

Tình hình dịch bệnh Covid-19 tại Thanh Hóa kể từ ngày 27/4/2021 đến 12 giờ 00 ngày 21/10/2021:

Tính đến 12 giờ 00 ngày 21/10/2021, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 773 ca dương tính, 105 ca tái dương tính; đã điều trị khỏi, ra viện 502 người; số bệnh nhân hiện đang điều trị 266 người (số bệnh nhân diễn biến nặng, nguy kịch 04 người); số bệnh nhân tử vong 05 người. Toàn tỉnh hiện tại có 147 khu cách ly sẵn sàng hoạt động với khả năng thu dung 11.201 người. Tổng số trường hợp cách ly tập trung 27.006 người, hiện đang cách ly 3.209 người. Số trường hợp cách ly tại nhà, nơi lưu trú 162.300 người, hiện đang cách ly 15.453 người. Đã xét nghiệm 359.423 mẫu đối với 121.725 người. Đến 17 giờ 00 ngày 20/10/2021 đã có 806.755 mẫu test nhanh kháng nguyên được triển khai tại 27/27 huyện, thị xã, thành phố. Từ ngày 27/4/2021 đến nay, đã thực hiện giám sát, truy vết tổng số 6.336 đối tượng F1 và các đối liên quan đến các chuyến bay, chuyến xe có bệnh nhân dương tính; 28.808 đối tượng F2 và các trường hợp liên quan khác.

Các ổ dịch tại huyện Nông Cống, Như Thanh, BVĐK Hợp Lực, huyện Nga Sơn, TX. Nghi Sơn, huyện Hậu Lộc, Quảng Xương, Bệnh viện Covid-19 số 1 đã được kiểm soát, xử lý. Hiện tại còn một số ổ dịch sau:

- Tại TP. Thanh Hoá: Liên quan đến ổ dịch tại TX. Bỉm Sơn, TP. Thanh Hóa ghi nhận 02 ca bệnh đầu tiên ngày 16/10/2021, ngày 20/10/2021 ghi nhận thêm 02 ca bệnh liên quan đến ca bệnh ghi nhận trước đó. Tổng số ca bệnh tại TP. Thanh Hóa là 04 ca tại 03 phường (Đông Thọ, Nam Ngạn và Lam Sơn).

- Tại TP. Sầm Sơn: Ngày 14/9/2021 ghi nhận 01 ca bệnh, tại phường Trường Sơn, liên quan đến ca mắc tại xã Quảng Chính. Ngày 16/10/2021, ghi nhận ca bệnh đầu tiên tại phường Quảng Cư liên quan đến ổ dịch TX. Bỉm Sơn. Tổng số ca bệnh liên quan đến ổ dịch Thị xã Bỉm Sơn là 03 ca tại 02 phường (Quảng Cư và Trung Sơn).

- Tại TX. Bỉm Sơn: Ngày 14/10/2021 ghi nhận 02 ca bệnh đầu tiên. Đến nay, tổng số ca bệnh ghi nhận tại TX. Bỉm Sơn là 107 ca, tại 06 xã, phường.

- Tại huyện Hà Trung: Ngày 16/10/2021 ghi nhận ca bệnh đầu tiên tại xã Hà Bắc, liên quan đến ca bệnh tại TX. Bỉm Sơn. Đến nay, tổng số ca bệnh ghi nhận tại Hà Trung là 10 ca tại 05 xã (Hà Bắc, Hà Ngọc, Hà Châu, Hà Giang, Yến Sơn).

- Tại huyện Triệu Sơn: Ngày 19/10/2021 ghi nhận ca bệnh đầu tiên tại thị trấn Triệu Sơn, dịch tễ liên quan là lái xe đường dài từ Bình Dương về. Đến nay tổng số ca bệnh tại thị trấn Triệu Sơn là 08 ca.

- Tại huyện Thọ Xuân: Ngày 20/10/2021 ghi nhận ca bệnh đầu tiên tại xã Xuân Lai là F1 của bệnh nhân ghi nhận trước đó từ Bình Dương về. Đến nay, tổng số ca bệnh ghi nhận tại Thọ Xuân là 04 ca, tại 02 xã (Xuân Lai, Thuận Minh).

Triển khai chiến dịch tiêm chủng Vắc xin phòng Covid-19: Tính đến 18 giờ ngày 20/10/2021, toàn tỉnh đã có 819.440 người được tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19, trong đó có 86.833 người tiêm đủ 02 mũi, 732.607 người tiêm 01 mũi. Tỷ lệ bao phủ vắc xin cho đối tượng từ 18 tuổi trở lên trên địa bàn tỉnh đạt 31,43% (819.440/2.605.729 người).

5.4. Giáo dục - Đào tạo

Ngành Giáo dục - Đào tạo tích cực tuyên truyền, triển khai có hiệu quả nhiệm vụ năm học 2021 - 2022; phát động phòng trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” chào mừng ngày Bác Hồ gửi thư cho ngành Giáo dục (20/10); kỷ niệm Ngày thành lập Công đoàn ngành Giáo dục (15/10); kỷ niệm Ngày thành lập Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10); hướng dẫn phòng giáo dục và đào tạo các huyện, thị xã, thành phố tổ chức dạy và học ứng phó với dịch Covid-19 trong tình hình mới. Hoàn thành việc chỉ đạo các đơn vị, trường học thực hiện công tác tuyển sinh các lớp đầu cấp đảm bảo theo đúng kế hoạch; đáp ứng cơ sở vật chất, phòng chống dịch bệnh Covid-19 cho dạy và học cũng như hoạt động của nhà trường.

Tổ chức thành công kỳ thi chọn đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia các môn văn hoá lớp 12 năm học 2021 – 2022, phát động Chương trình “Máy tính cho em”, trao 125 xuất học bổng với trị giá 1,25 tỷ đồng, nâng cấp tốc độ internet cho việc dạy học trực tuyến với tổng trị giá 1,5 tỷ đồng.

Thực hiện Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ, ngày 14/10/2021, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành quyết định số 4031/QĐ-UBND về việc cấp gạo dự trữ quốc gia hỗ trợ học sinh học kỳ I năm học 2021 - 2022. Theo đó, cấp gạo cho học sinh đang học tại các trường cấp 1, cấp 2, cấp 3 và trường phổ thông có nhiều cấp học, thuộc đối tượng hưởng chính sách hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 116/2016/NĐ-CP. Số học sinh được hưởng là 10.911 của 157 trường. Tổng số gạo hỗ trợ học kỳ I năm học 2021 - 2022 là 818.490 kg. Mức hỗ trợ 15kg/1 học sinh/1 tháng. Cục Dữ trữ Nhà nước khu vực Thanh Hóa có trách nhiệm đóng bao, vận chuyển và giao gạo hỗ trợ cho học sinh tại các điểm trường chính có học sinh được hỗ trợ, đảm bảo đúng quy định hiện hành.

5.5. Văn hoá - Thể dục thể thao

Ngành Văn hóa, Thông tin tập trung tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà Nước; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp; Nghị quyết số 58-NQ/TW ngày 05/8/2020 về “Xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; kỷ niệm 603 năm khởi nghĩa Lam Sơn và Lễ hội Lam Kinh năm 2021; 593 năm Vua Lê Thái Tổ đăng quang, tưởng niệm 588 năm ngày mất của anh hùng Lê Lợi; kỷ niệm ngày Quốc tế Người cao tuổi 01/10.

Hoạt động biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, đã biểu diễn báo cáo tổng duyệt vở diễn “Vầng sáng” tham gia Liên hoan Kịch nói toàn quốc năm 2021; chương trình Ca múa nhạc tham gia Liên hoan Ca, Múa, Nhạc chuyên nghiệp toàn quốc năm 2021; dàn dựng luyện và biểu diễn báo cáo tổng duyệt, ghi hình chương trình sân khấu truyền hình số 6; tập luyện và ghi hình 06 tiểu phẩm và 01 ca khúc có nội dung tuyên truyền phòng, chống dịch Covid-19; tham gia cuộc thi sáng tác và biểu diễn các tác phẩm về tuyên truyền phòng, chống dịch Coivd-19 năm 2021 tại Hà Nội do Hội Nghệ sỹ Sân khấu Việt Nam tổ chức; trong tháng 10/2021 đã tổ chức 08 buổi biểu diễn nghệ thuật; phục vụ 10 ngàn lượt người xem; các hoạt động chiếu phim tạm dừng để đảm bảo an toàn trong công tác phòng, chống dịch Covid-19.

Tháng Mười, thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì, thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp tiếp tục được quan tâm. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo và phát triển bóng đá năm 2021; chuẩn bị lực lượng tham gia và đăng cai vòng chung kết giải bóng đá thiếu niên nhi đồng toàn quốc năm 2021.

5.6. Tai nạn giao thông

Công an giao thông, Thanh tra giao thông phối hợp với các ngành, các địa phương huy động lực lượng, phương tiện, triển khai đồng bộ các biện pháp công tác, bố trí lực lượng, tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm an toàn giao thông. Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, tháng 10/2021 (tính từ ngày 15/9/2021 đến ngày 14/10/2021), toàn tỉnh xảy ra 28 vụ tai nạn giao thông, làm chết 14 người, bị thương 23 người; so với cùng kỳ năm 2020, tăng 01 vụ, giảm 01 người chết, tăng 04 người bị thương. Nguyên nhân gây tai nạn giao thông chủ yếu do vi phạm tốc độ, không chú ý quan sát, vi phạm phần đường và làn đường, không giữ khoảng cách, vượt sai quy định. Tính chung 10 tháng đầu năm 2021 trên địa bản tỉnh xảy ra 276 vụ tai nạn giao thông, làm chết 104 người, bị thương 221 người; so với cùng kỳ năm 2020, giảm 60 vụ, giảm 16 người chết, giảm 67 người bị thương.

Trong tháng, các lực lượng chức năng đã kiểm tra, xử lý 5.416 trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông; phạt tiền hơn 8,473 tỷ đồng; tạm giữ 944 phương tiện (145 xe ô tô, 791 xe mô tô và 8 phương tiện khác); tước giấy phép lái xe 219 trường hợp.

5.7. Thiệt hại do thiên tai

Theo thông tin từ Văn phòng thường trực chỉ huy phòng chống thiên tai (thuộc Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn và Phòng thủ dân sự tỉnh Thanh Hóa) cho biết, tính từ đầu năm đến ngày 15/10/2021, tỉnh Thanh Hóa đã phải hứng chịu 26 trận thiên tai, gồm: 06 đợt nắng nóng; 03 đợt rét đậm, rét hại; 06 đợt mưa lớn; 08 trận giông, lốc, sét; 02 trận sạt lở đất; 03 cơn bão (bão số 2, số 7 và số 8) và 01 áp thấp nhiệt đới. Thiên tai đã làm chết 02 người, 01 người bị thương và gây thiệt hại tài sản khoảng 43 tỉ đồng.

Theo báo cáo của Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn và Phòng thủ dân sự tỉnh Thanh Hóa cho biết, tính đến 21 giờ ngày 14/10, ảnh hưởng của mưa bão số 8 và áp thấp nhiệt đới đã gây sạt lở, ngập một số điểm trên các tuyến đường quốc lộ, đường tỉnh trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Theo đó, trên tuyến quốc lộ 217B bị sạt taluy dương, sa bồi mặt đường, sa bồi rãnh dọc hơn 10 vị trí với khối lượng khoảng 30 m3, lề đường bị xói trôi ở nhiều vị trí. Trên các tuyến đường tỉnh như đường 514, 516B, 522, 523C, 516… cũng bị sa bồi mặt đường, sa bồi rãnh dọc, xói trôi lề đường nhiều vị trí với khối lượng khoảng 200 m3. Tại các vị trí tràn cũng bị ngập 4 điểm trên các đường tỉnh 519B, 521B. Hiện các đơn vị quản lý đường bộ đã cử người trực gác, đặt rào chắn, biển báo để đảm bảo an toàn giao thông.

5.8. Cháy, nổ

Tháng 9/2021, xảy ra 07 vụ cháy[5] (01 vụ thiệt hại không đáng kể và 05 vụ đang thống kê), thiệt hại khoảng 800 triệu đồng. Trong tháng, lực lượng chức năng đã tổ chức kiểm tra, hướng dẫn an toàn PCCC 383 lượt cơ sở, lập 383 biên bản kiểm tra; kiến nghị khắc phục 1.373 tồn tại, thiếu sót; xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC 06 trường hợp, phạt tiền 5,65 triệu đồng. Tính chung 10 tháng đầu năm 2021, xảy ra 50 vụ cháy, không có người chết và bị thương, thiệt hại 3.285,5 triệu đồng và 6000 m2 thảm thực bì (còn 24 vụ đang tiếp tục thống kê).

 

[1] Bão số 7 cấm biển từ 17 giờ ngày 09/10/2021 đến khi bão tan. Bão số 8 cấm biển từ 18 giờ ngày 12/10/2021 cho đến khi có thông báo mở biển của Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai, Tìm kiếm cứu nạn và Phòng thủ dân sự tỉnh.

[2] Tháng 10/2021: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm ước đạt 6.081 tỷ đồng, tăng 22,7% so tháng trước, tăng 20,9% so tháng cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình 1.020 tỷ đồng, tăng 20,0% so tháng trước, tăng 9,0% so tháng cùng kỳ; vật phẩm văn hóa giáo dục 108 tỷ đồng, tăng 6,9% so tháng trước, tăng 4,6% so tháng cùng kỳ; ô tô con các loại (dưới 9 chỗ ngồi) 238 tỷ đồng, tăng 8,6% so tháng trước, tăng 16,9% so tháng cùng kỳ; xăng, dầu các loại 703 tỷ đồng, tăng 20,0% so tháng trước, tăng 27,6% so tháng cùng kỳ...

[3] Lũy kế 10 tháng năm 2021: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm ước đạt 39.762 tỷ đồng, tăng 16,9%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình 11.239 tỷ đồng, tăng 5,9%; ô tô con các loại (dưới 9 chỗ ngồi) 2.586 tỷ đồng, tăng 9,9%; xăng, dầu các loại 10.745 tỷ đồng, tăng 6,7%...

[4] Tốc độ tăng CPI bình quân 10 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước các năm từ 2016 - 2021 lần lượt là: 2,01%; 2,78%; 3,93%; 2,10%; 5,32%; 1,47%.

[5] TP. Thanh Hóa 04 vụ, TP. Sầm Sơn, huyện Đông Sơn, Hà Trung mỗi địa phương 01 vụ.

<

Tin mới nhất

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10 năm 2021(*)(30/10/2021 10:54 SA)

Tình hình kinh tế - xã hội tháng Mười và 10 tháng đầu năm 2021(30/10/2021 10:49 SA)

Sản xuất công nghiệp ổn định và có bước phát triển, đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế tỉnh...(30/09/2021 2:30 CH)

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9 năm 2021(28/09/2021 4:23 CH)

Tình hình kinh tế - xã hội chín tháng đầu năm 2021(28/09/2021 3:33 CH)

Công tác triển khai thực hiện và kết quả tổng hợp nhanh một số chỉ tiêu cuộc Tổng điều tra kinh...(23/09/2021 5:17 CH)

    741 người đang online